(NLĐO) – Không chỉ giữ rừng len xanh, những sơn nữ Vân Kiều ở phía Tây Quảng Trị còn tham gia tuần tra, bảo vệ rừng cộng đồng – công việc tưởng chừng như chỉ cánh mày râu mới dám đứng ra đảm nhận.
Rừng len xanh nằm trên lèn đá cheo leo
Những sơn nữ này tuổi đời chỉ mới 20 – 30 nhưng đảm nhận công việc đòi hỏi phải có đủ sức vóc và cơ bắp. Đó là phòng chống cháy rừng và tham gia tuần tra, giữ rừng cộng đồng.
Laocaitv.vn – Trước tình dịch bệnh đang diễn biến phức tạp, hình thức Livestream giới thiệu sản phẩm càng trở nên phổ biến. Tiếp cận với xu thế này, phụ nữ người Mông, người Pa Dí…ở Mường Khương đã thành công khi đưa hàng nông sản đặc sản của địa phương lên facebook bằng hình thức livestream. Họ vừa bán hàng, vừa mang đến những câu chuyện về văn hóa dân tộc trong từng sản phẩm với sự tâm huyết và tự hào.
Những phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ đang mang thai ở 60 xã dân tộc thiểu số thuộc vùng sâu, vùng xa của sáu tỉnh khó khăn nhất bao gồm Bắc Cạn, Lai Châu, Sơn La, Đắc Nông, Kon Tum và Gia Lai, sẽ được hưởng lợi từ các can thiệp đổi mới sáng tạo nhằm ngăn chặn tình trạng tử vong mẹ khi có thể phòng ngừa được.
Khởi động Dự án Giảm tình trạng tử vong mẹ tai các vùng dân tộc thiểu số tại Việt Nam
TTO – Đó là con số nổi bật trong báo cáo “Số liệu về phụ nữ và nam giới các dân tộc ở Việt Nam giai đoạn 2015-2019” được công bố nhân Ngày quốc tế dân tộc bản địa thế giới (9-8).
Trẻ em dân tộc thiểu số dễ bỏ học do tham gia sớm vào các hoạt động kinh tế, hỗ trợ công việc trong gia đình, tảo hôn hoặc khoảng cách từ nhà đến trường xa – Ảnh: ĐỨC HIỆP
Báo cáo do Cơ quan Liên Hiệp Quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women) phối hợp với Viện Khoa học lao động và xã hội, Ủy ban Dân tộc, Đại sứ quán Ireland thực hiện.
Trước tình trạng đất nông lâm trường đang quản lý, sử dụng kém hiệu quả, trong khi đồng bào dân tộc thiểu số còn thiếu đất sản xuất, nhiều đại biểu Quốc hội kiến nghị cần sớm sửa đổi Luật Đất đai…
Theo báo cáo tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc Hội mới đây về thực hiện Nghị quyết số 76/2014/QH13 đẩy mạnh giảm nghèo bền vững đến năm 2020, cả nước vẫn còn 58.000 hộ dân thiếu đất ở và 303.578 hộ thiếu đất sản xuất. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng đã đến lúc cần tổng kết, đánh giá kỹ nguyên nhân dẫn tới việc sau gần 30 năm “sắp xếp, đổi mới” rừng vẫn mất, đất đai bị lấn chiếm tranh chấp, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số vẫn ở mức cào; từ đó đưa ra giải pháp phù hợp ngay trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai tới đây.
CLB ngoại ngữ cộng đồng vừa được tổ chức miễn phí tại Nghệ An. Người học là bà con dân tộc thiểu số vùng du lịch.
Ngoài dạy tiếng Anh cho người dân, CLB còn hỗ trợ giao tiếp tiếng Anh cho học sinh và giáo viên tại Nam Đàn, Nghệ An
Lớp học không đặt mục tiêu cao, mà chỉ mong muốn “phổ cập” tiếng Anh giao tiếp đơn giản, cơ bản cho người dân để phát triển ngành nghề của mình phù hợp với bối cảnh mới.
WOMEN AT WORK: Bản Liền ladies roofing a house with fresh palm leaves. Photo Nam Nguyễn
By Nguyễn Mỹ Hà
It’s been nearly a month since Hà and Thông decided to replace their stilt house’s cement roof with traditional and more eco-friendly palm leaves.
Husband Hà and wife Thông form an ethnic Tày household in Bản Liền Commune of Bắc Hà District in northwest Lào Cai Province. When people refer to them they call out their names together Hà-Thông.
It is late in the afternoon twilight, and two rows of Tày women clad in traditional black tunics with colourful headscarves and waistbands are tying leaves to bamboo bars on the roof under the watchful eye of a master roof-maker.
(PLVN) – Thời chiến tranh chống Mỹ, già Ksor H’Lâm (SN 1945, làng Krong, xã Ia Mơ, huyện Chư Prông, Gia Lai) là một nữ chiến sỹ gan dạ. Thời bình, với vai trò già làng, bà đã giúp đồng bào mình phát triển kinh tế, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu.
Già làng Ksor H’Lâm của làng Krong, xã Ia Mơ, huyện Chư Prông, Gia Lai.
THANH HÓA – Các lớp học ở Trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Trung Lý, huyện Mường Lát, đều được chia đất trồng rau, cung cấp cho bếp ăn bán trú.
Sau giờ học buổi sáng, Giàng Thị Dợ, học sinh lớp 9B, trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Trung Lý, cất vội chiếc cặp vào phòng rồi cùng nhóm bạn đến vườn rau trước sân trường. Nữ sinh mặc chiếc váy trang phục truyền thống của người Mông, thoăn thoắt hái những đọt rau xanh xếp ngay ngắn vào rổ.
Đám học trò vừa hái rau vừa cười nói rôm rả. Chừng mươi phút, rổ rau đã đầy ắp. Bên cạnh, một nhóm khác đang cuốc đất, tay chân lấm lem…
Nữ sinh ở trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Trung Lý thu hoạch luống rau xanh mướt. Ảnh: Lê Hoàng.
Những năm gần đây, tại vùng cao Bắc Kạn xuất hiện ngày càng nhiều phụ nữ là người dân tộc thiểu số đứng ra làm chủ doanh nghiệp. Với sự quyết tâm, sáng tạo, những người phụ nữ nơi đây đã tỏ rõ bản lĩnh, sự tự tin để vươn lên làm giàu chính đáng và khẳng định được vai trò, vị thế của mình trong xã hội.
Nhận thấy tiềm năng từ những nông sản bản địa như: Măng, chuối, mật ong, năm 2015, chị Lý Thị Quyên, một phụ nữ dân tộc Dao ở xã Vi Hương, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn đã đứng ra vận động các chị em trong xã cùng thành lập hợp tác xã sản xuất các sản phẩm này.
Chị Lý Thị Quyên, Giám đốc HTX Thiên An (bên trái) đã mạnh dạn đưa các sản phẩm thảo dược gia truyền của đồng bào dân tộc Dao ra thị trường
GDVN– Không những tự trồng rau xanh sạch, học sinh còn dùng tiền bán rau để mua gà, vịt giống…về chăn nuôi cải thiện vào bữa ăn của các em hàng ngày tại trường bán trú.
“Tôi thấy ở địa phương xung quanh khu vực trường học có tình trạng ô nhiễm môi trường do bã cà phê được các hộ dân ở đây đổ ra dọc hai bên đường sau khi xay thu hoạch, số lượng bã khá lớn nên gây mùi hôi thối và còn làm ô nhiễm nguồn nước.
Xuất phát từ suy nghĩ như vậy và thấy trong chương trình phổ thông có hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học, nên tôi và một số giáo viên của trường đã hướng dẫn các em đưa ra hướng xử lý bã cà phê đó, biến chúng thành những giá thể có ích để trồng rau”, trao đổi với phóng viên Giáo dục Việt Nam, thầy Đinh Anh Công – Hiệu trưởng Trường phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Hướng Phùng, Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, cho biết.
Các em học sinh Trường phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Hướng Phùng, Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đang chăm sóc những giá thể trồng rau xanh. Ảnh: Thầy Công cung cấp.
Hồ Minh cho tôi cảm giác già hơn tuổi thật 30 của anh. Nước da ngăm đen, dáng người thanh mảnh và chất phác như những người Bru Vân Kiều trên đỉnh Trường Sơn mà tôi vẫn được gặp. Khác chăng là nét táo bạo trong làm ăn của Minh làm tôi nể phục.
Anh Hồ Minh chăm sóc đàn dê của gia đình
Đi lên từ hai bàn tay trắng
Trường Xuân là xã miền núi của huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảnh Bình, xã có 2.800 nhân khẩu thì có đến 26% là người Bru Vân Kiều. Những năm gần đây đời sống bà con nói chung và đồng bào Bru Vân Kiều nói riêng không ngừng được cải thiện. Tiếp tục đọc “Tỉ phú người Bru Vân Kiều Hồ Minh: Dám nợ… để làm giàu”→
TN – Bé thơ ê a đánh vần con chữ giữa rừng tựa tiếng chim hót chốn non cao. Bàn tay nhỏ cầm bút nắn nót viết vào trang vở kê trên khúc cây khô khiến bao người thương cảm…
Thỉnh thoảng có chú công an vào rừng dạy chữ cho các cháu – ẢNH: TRANG THY
Mùa nắng hạ, nhiều cặp vợ chồng dân tộc HRê ở huyện miền núi Ba Tơ (Quảng Ngãi) đưa con vào rừng “sống đời Digan”. Ngày, cha mẹ nhọc nhằn cưa hạ, lột vỏ keo thuê. Đêm, cả gia đình quây quần trong lán trại trên đỉnh cao lộng gió. Tiếng trẻ thơ ê a đánh vần con chữ giữa rừng khiến họ xót thương phận mình, rồi nhủ lòng phải gắng sức đưa con đến trường cho đời vơi khổ.
Đời cha thiếu chữ…
Đêm trên đỉnh Màng Ten (giáp ranh Ba Tơ và Đức Phổ), tôi đã nghe những câu chuyện của nhóm người ở thôn Hố Sâu, xã Ba Khâm, H.Ba Tơ đi khai thác keo thuê mà xót lòng. Do ít học và thiếu đất sản xuất nên nhiều người HRê phải chịu cảnh nghèo khổ, sống đời làm thuê, rong ruổi khắp núi rừng.
Phận nghèo lan sang con cháu như định mệnh, khổ cực bám lấy những con người hiền lành, chất phác. Hơn 40 tuổi, vợ chồng anh Phạm Văn Héo và chị Phạm Thị Biết trải qua bao nỗi cơ cực nơi núi rừng. Ngày ngày, anh cùng người làng rong ruổi khắp rừng tìm lâm sản mang về bán cho thương lái miền xuôi. Chị cặm cụi chăm bón sào ruộng lúa bậc thang bạc màu nên thu nhập chẳng đáng là bao. Rồi rừng keo trải dài, bao phủ núi gần lẫn non xa. Khoản tiền thu từ keo làm giàu cho chủ rừng, nhưng gây ảnh hưởng đến sinh kế của bao cư dân miền sơn cước. Lâm sản khan hiếm nên những chuyến đi rừng dài ngày trở về với tiếng thở dài nghe não lòng. Mạch nước ngầm cạn kiệt, ruộng lúa chỉ sản xuất một vụ trong năm. Sống giữa rừng nhưng chẳng thể dựa vào rừng, họ đành dắt nhau rời làng mưu sinh nơi xa.
Chớm đông, vợ chồng anh Héo gửi con nhỏ rồi bắt xe lên Tây nguyên hái cà phê, làm thuê cho chủ vườn. Chừng đôi tháng, anh chị về nhà khi hết việc làm trên miền cao nguyên đất đỏ. Niềm vui khi được ôm con vào lòng xen lẫn âu lo vì “những ngày sắp tới làm gì ra tiền” lởn vởn trong tâm trí. Dịp may đến với anh chị khi người làng rủ vào rừng cưa hạ cây keo và lột vỏ thuê. Niềm vui vì có việc làm xua đi khổ cực lẫn nỗi lo hiểm nguy cận kề. “Vợ chồng tôi đều không biết chữ nên có việc làm là tốt lắm rồi. Bao đời ông bà rồi đến mình đều khổ. Vậy nên hai vợ chồng ráng làm kiếm tiền cho con ăn học”, chị Biết tâm sự.
Anh Phạm Văn Thủy rì rầm kể chuyện đời mình giữa rừng đêm. Học đến lớp 6, vì “đường sá gập ghềnh, trường xa, nhà khó” nên anh nghỉ học như bao thiếu niên cùng làng. Rồi theo bạn bè đi làm. Lần đầu tiên trong đời, anh mừng rơi nước mắt khi cầm trên tay 900.000 đồng tiền công cả tháng hái cà phê thuê cho chủ vườn ở Tây nguyên. Và kiếp làm thuê cơ cực vận vào đời anh từ đấy. Mùa khô, anh cùng vợ và người làng cưa hạ, lột vỏ keo thuê trên những miền rừng xa thẳm. Khi những cơn mưa tắm mát núi đồi, cây lá tốt tươi, anh cùng nhiều người lom khom phát chồi thuê dưới tán keo xanh mướt. Lao động cực nhọc và cận kề hiểm nguy, nhưng đó là điều may mắn vì có việc làm.
Trẻ thơ đánh vần con chữ trong đêm – ẢNH: TRANG THY
Thấm nỗi cơ cực vì thiếu học nên anh luôn cố gắng làm mọi việc để kiếm tiền lo cho con đến trường. Những ngày hè, vợ chồng anh mang hai con vào rừng để được quây quần trong lán trại sau những giờ lao động vất vả. Bước vào năm học, anh gửi con cho người chị gái đón đưa đến trường mỗi ngày. Chiều muộn, vợ chồng anh cưỡi xe máy vượt hàng chục cây số về nhà để được trông thấy con, dù nhiều bữa các bé ngủ vùi mang cả đợi chờ vào trong giấc mơ.
Ê a con chữ giữa rừng
Bé Phạm Thị Trần (8 tuổi, con gái của vợ chồng anh Héo) cặm cụi làm phép tính cộng trừ dưới ngọn đèn điện tỏ mặt người. Bàn học là khúc gỗ keo khô kiệt vì nắng nóng, ghế là đôi dép nhựa lót trên nền đất nâu giữa rừng. Những ngón tay nhỏ gầy cầm bút nắn nót viết từng con số vào trang vở mỏng như lá rừng. Nghe lời khen khi làm phép tính đúng, bé mỉm cười, vẻ mặt bẽn lẽn ngước lên nhìn khách lạ rồi cặm cụi bên trang giấy.
Vợ chồng anh Héo nở nụ cười tươi làm phai mờ những vết nhăn trên gương mặt sạm đen sau bao ngày dãi dầu mưa nắng. Mùa thu tới, bé vào lớp 3 với quãng đường đến trường chừng 9 km trập trùng đèo dốc. Vì không biết lái xe nên chị Biết phải vào rừng làm thuê, anh Héo ở nhà đưa đón con đến lớp mỗi ngày. “Dù mình tôi đi làm ít tiền hơn nhưng cũng để chồng ở nhà đưa đón con. Phải cho con học để biết thêm cái chữ. Đến hè cả hai vợ chồng cùng đi làm và dẫn con vào rừng…”, chị bộc bạch.
Khi cha mẹ bận rộn công việc ngoài rừng, bé Trần trông chừng em nhỏ, con của những người chung nhóm cưa hạ và lột vỏ keo thuê. Bé vào vai cô giáo chỉ bảo các em ê a đánh vần con chữ bên lán trại. Những đôi mắt ngây thơ nhìn vào trang vở, miệng líu lo như chim hót đón chào nắng ban mai. Tóc rám nắng lòa xòa, phất phơ trước gió. Các cháu hồn nhiên đọc chữ, đùa vui giữa núi rừng. Trẻ thơ chơi chán rồi học, học rồi lại chơi. “Con bày chữ mấy em đọc chứ viết chưa được. Mấy em ưng chơi học chữ lắm”, bé Trần rụt rè cho biết.
Sau giờ bóc vỏ keo, Phạm Văn Tuấn (14 tuổi) dạy các em phép tính
Các cháu bé trú ngụ cùng cha mẹ trên đỉnh Màng Ten hào hứng đón nhận chiếc bảng nhựa mỏng cùng hộp phấn trắng bạn tôi mang vào rừng. Các cháu xúm quanh chiếc bảng treo lên chạc cây, hí hoáy viết chữ, xóa sạch rồi lại viết, gương mặt lộ vẻ thích thú. Sau giờ lột vỏ keo, em Phạm Văn Tuấn (14 tuổi) cầm phấn đứng trước bảng dạy các em thơ. Các cháu chăm chú lắng nghe, miệng há tròn như nuốt từng lời. Những đôi mắt mở to nhìn lên bảng, vẻ mặt đầy háo hức.
Sau tiếng đọc của Tuấn, giọng các cháu hòa theo rập ràng trong gió ngàn xào xạc. “Nhiều em chưa biết chữ và con số, nhưng ưng học lắm. Đọc xong bữa sau quên mất nhưng vẫn ưng học. Cháu theo mấy cô, chú lột vỏ keo đến khai giảng năm học mới thì nghỉ làm để đến trường. Lúc đó, cháu có tiền mua sách vở và phụ giúp gia đình rồi. Hè sang năm tiếp tục vào rừng làm nữa…”, Tuấn cho biết.
Nhìn con dõi theo dòng chữ trên bảng, anh Thủy thỏa lòng ước nguyện, gương mặt rạng ngời niềm vui. Anh nhắc vợ mua quần áo mới cùng dụng cụ học tập cho 2 con: đứa lớn sắp vào lớp 5, nhỏ vào lớp 2. Căn nhà tạm bợ, khoản tiền thu nhập từ việc làm thuê thất thường, nhưng anh dự định tìm cô giáo dạy thêm cho con lớn để sức học theo kịp chúng bạn. “Dù nghèo khổ tôi vẫn gắng cho con ăn học cái chữ. Có ăn học kiếm cái nghề thì đời mới bớt cơ cực. Nếu không thì chỉ quẩn quanh, làm thuê trong rừng, biết bao giờ mới hết khổ!”, anh khẳng định.
Tôi cùng bạn rời đỉnh Màng Ten với những cánh tay bé nhỏ vẫy chào tạm biệt. Ngoảnh nhìn, dáng đứng trẻ thơ tựa cây non vươn lên trong nắng sớm. Tiếng ê a đánh vần con chữ theo mỗi bước chân qua đèo dốc điệp trùng.
Ông Lữ Đình Tích, Phó chủ tịch UBND H.Ba Tơ (Quảng Ngãi), cho biết: Theo số liệu thống kê, có hơn 1.000 người dân trong huyện làm nghề khai thác cây keo thuê. Những lúc nông nhàn, họ đi làm thuê để kiếm thêm nguồn thu nhập. Cuộc sống của bà con được cải thiện hơn so với trước, nhưng nhiều người vẫn còn khó khăn. Nhà nước cũng hỗ trợ kinh phí cho con em hộ nghèo và những học sinh ở xa trường nhằm khuyến khích, động viên các em đến lớp.
Tục bắt vợ vốn là một nét văn hóa của đồng bào dân tộc Mông. Nhưng giờ đây, thay vì tiếng khèn, câu hát, những ánh mắt yêu thương người ta bắt gặp qua các vụ bắt vợ là cảnh giằng xé hỗn loạn, sự sợ hãi, nỗ lực chống cự yếu ớt của cô gái và những nụ cười hào hứng của trai bản, mà không biết rằng đây chính là hành vi vi phạm pháp luật.