Lâm Đồng dự kiến lấy 32.000 hecta rừng làm dự án: Nguy cơ tác động tới hệ sinh thái ?

Tia sáng – 12-4-2024 – Lê Quỳnh

Lâm Đồng đang lên kế hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng hơn 32.000 hectares đất rừng, trong đó có 70% diện tích là rừng tự nhiên để xây dựng các dự án, công trình phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng cho giai đoạn 2021 – 2030. Giới chuyên môn lo ngại đánh đổi này sẽ gây ảnh hưởng lớn tới hệ sinh thái, và cho rằng tỉnh cần cân nhắc giữa mục tiêu phát triển kinh tế với chuyển đổi đất rừng trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khó lường.

Khu vực đất lâm nghiệp ở khu vực rừng phòng hộ Tà Nung, thành phố Đà Lạt mà ông Trần Văn Ry và một số hộ dân khác đang sản xuất nông nghiệp. Ảnh: Nam Phong.

Tiếp tục đọc “Lâm Đồng dự kiến lấy 32.000 hecta rừng làm dự án: Nguy cơ tác động tới hệ sinh thái ?”

Lâm Đồng hết quỹ đất trồng rừng thay thế

LÊ QUỲNH – 10/04/2024 09:56 GMT+7

TTCTGiai đoạn 2021-2030, tỉnh Lâm Đồng dự kiến chuyển mục đích 32.115ha đất rừng thành các loại đất khác, cần trồng hơn 77.000ha rừng thay thế. Nhưng tỉnh này hiện không còn đất để trồng rừng.

Khu vực trước kia từng là một dự án khai thác vàng tại xã Tà Năng, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng. Ảnh: NAM PHONG

Anh Yatha (người Churu ở xã Tà Năng, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng) chỉ ra phía những ngọn đồi kể rằng thay đổi rõ nhất theo thời gian ở xã Tà Năng là những quả đồi bị đào khoét nham nhở vì nhiều mục đích khác nhau, bao gồm cả việc đào bới để khai thác khoáng sản. Có những quả đồi bị khoét hết một nửa để khai thác quặng vàng, gây ô nhiễm và hủy hoại con suối vốn là nguồn nước duy nhất dùng để tưới cho nương rẫy của làng anh.

Yatha từng là một thợ săn, hiện tham gia bảo tồn thú cho một dự án phi chính phủ, đồng thời làm người hướng dẫn cho những hoạt động trekking có chọn lọc “để bảo vệ hệ sinh thái, bảo vệ rừng quê nhà mình”.

Tiếp tục đọc “Lâm Đồng hết quỹ đất trồng rừng thay thế”

Hoang hoải Đồng Dương

ANTG – Thứ Hai, 04/11/2024, 07:52

Một thời huy hoàng và danh giá, Phật viện Đồng Dương đã chẳng còn lại gì ngoài một chân Tháp Sáng với cơ man gạch vỡ xung quanh và chằng chịt những cây chống để đấu chọi lại sự tàn phá của thời gian.

Chạnh lòng Tháp Sáng

Trên một vùng đồng bằng lúa tốt phì nhiêu xã Bình Định Bắc (Thăng Bình, Quảng Nam) lâu nay vẫn được biết đến là địa điểm của một Phật viện từng được đánh giá là lớn nhất Đông Nam Á. Phật viện Đồng Dương được hai nhà khoa học thuộc Viện Viễn Đông Bác cổ chuyên nghiên cứu văn hóa cổ Đông Dương thời thuộc địa là L.Finot phát hiện năm 1901 và H.Parmentier khai quật năm 1902.

Tháp Sáng bị xuống cấp trầm trọng, phải chống đỡ bằng hệ thống cột thép.

Tiếp tục đọc “Hoang hoải Đồng Dương”

Đất và người vùng miền núi phía Bắc: Dựng lại trên những gì?

NGUYỄN THU QUỲNH – 01/10/2024 15:54 GMT+7

TTCTSau khi những cơn lũ và sạt lở đất quét qua làng, rồi đây các cộng đồng người dân tộc thiểu số sẽ đứng lên bằng gì?

Xã Hồ Bốn Mù Cang Chải sau trận lũ tháng 8-2023. Ảnh: Nguyễn Việt Cường

Trong căn nhà tuềnh toàng ghép bằng những tấm ván mới xẻ, bào sơ qua, thứ tài sản duy nhất là mấy cái nồi và mấy cái bát, em bé 1 tuổi hai má đỏ au tóc vàng hoe nằm say ngủ. Em bé người Mông say ngủ ở bản tái định cư Hồng Nhì Pá, xã Lao Chải được cha mẹ cõng chạy thoát cơn lũ quét kinh hoàng cuốn qua cả ba xã Lao Chải, Khao Mang, Hồ Bốn của huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) vào ngày 5-8-2023.

Tổng cộng 700 căn nhà bị ảnh hưởng, hỏng 200km đường, ba xã cô lập hoàn toàn – không điện, không nước, không sóng điện thoại. Điều cứu được những bản làng dọc theo bờ suối chạy dọc ba xã hôm ấy chỉ là may mắn: cơn lũ và sạt lở bắt đầu khi trời vừa chập tối, đủ để người dân nhìn thấy dòng nước bùn lũ đen sì đổ về. 

Nhưng cũng trong cơn mưa lũ kinh hoàng, hai em bé ở Khao Mang không có được may mắn ấy, đất đá lở xuống vùi lấp hai em đang ngủ say khi bố mẹ đi nương chưa về.

Đó mới chỉ là một phần nỗi tang thương khủng khiếp do mưa lũ, sạt lở ở các vùng chủ yếu là người dân tộc thiểu số sinh sống ở những dãy núi cao mà năm nào cũng xảy ra, không ở bản làng này thì ở bản làng khác. Và với miền núi phía Bắc, năm ngoái dù sao cũng vẫn còn may mắn hơn năm nay – đến giờ vẫn chưa thể thống kê hết thiệt hại sau cơn bão số 3.

Chú thích: Sạt lở sau bão số 3 ở thôn Tả Suối Câu, xã A Lù, Bát Xát, Lào Cai 19-9-2024 Ảnh: Đỗ Trọng Hiệp

Đã qua những ngày bão táp, câu hỏi lâu dài hơn là sau khi những cơn lũ và sạt lở đất quét qua làng, rồi đây người dân tộc thiểu số sẽ đứng lên bằng gì? Và những đứa trẻ, các em sẽ làm gì đây sau này lớn lên?

Mấy năm nay tôi đi miền núi phía Bắc liên tục, leo lên những bản làng cheo leo, những con đường mòn trên núi cao nhất của Mù Cang Chải – nơi chỉ có những bản làng người Mông cho đến các huyện Sa Pa, Bát Xát (Lào Cai) tới những làng người Dao, người Mông, người Hà Nhì ở hay Bình Liêu, Quảng Ninh có người Dao sinh sống… 

Tôi quan sát miền núi ở nhiều góc độ khác nhau, phỏng vấn nhiều nhân vật khác nhau, từ các cán bộ địa phương (cấp huyện, cấp xã, thôn bản), người dân (ở cả các nhóm nghèo vốn chiếm đa số ở các nhóm dân tộc thiểu số miền núi và một số rất ít các hộ nhạy bén làm kinh tế giỏi), chuyên gia kinh tế và chuyên gia khảo sát các hiện tượng như sạt lở, lũ quét… và đọc hàng chục báo cáo đã được công bố.

Một miền núi lãng mạn và một miền núi bi kịch

Tiếc là, người miền núi sở hữu cảnh quan đẹp hùng vĩ, những ruộng bậc thang tạo tác kiến trúc kỳ vĩ bậc nhất đất nước lại hầu như chưa được hưởng lợi từ những tài sản vô giá mà người dưới xuôi vẫn gọi là “view triệu đô” đó. Tiếc là, đối diện với một miền núi mộng mơ lãng mạn là một miền núi bi kịch với chồng chồng lớp lớp nguy cơ.

Tất cả những miền đất tôi vừa kể trên, bước vào mùa khô, mùa thu hoạch hay mùa hoa đào trước Tết đều đẹp như chốn bồng lai tiên cảnh, nơi những bậc thang lúa, bậc thang mây, núi rừng phủ hoa trải dài ngút mắt. 

Nhưng những cơ hội triệu đô ấy phần lớn mới ở dạng tiềm năng chưa thành tiền tươi thóc thật, mà lũ quét, sạt lở lại là hiện thực thường trực, sẵn sàng ụp xuống vào mùa mưa, chỉ là không biết vào lúc nào.

Bước ra khỏi bản khu tái định cư Hồng Nhì Pá cheo leo trên đỉnh núi, điều thấy ngay chưa phải là những cánh đồng ruộng bậc thang ngút mắt, sóng lúa dập dờn của xã Lao Chải mà là những mảng núi trơ trọi vẫn còn nguyên vết tích lở loét sau lũ quét và sạt lở từng mảng.

Để trả lời được câu hỏi ấy, theo cách kinh điển nhất trong phân tích về phát triển ở các cộng đồng là đánh giá các nguồn lực trong sinh kế, chủ yếu xoay quanh các nguồn lực tự nhiên, vật chất, tài chính, con người và tài sản xã hội (mạng lưới xã hội, khả năng tham gia các tổ chức xã hội khác nhau). 

Phân tích tất cả các nguồn lực sẽ là quá sức trong bài viết này, nhưng hai nguồn vốn chính có thể phân tích sâu là vốn tự nhiên (chủ yếu là rừng – nguồn lực vừa là nguồn vốn tự nhiên, là nguồn lực đảm bảo không gian sống an toàn, vừa là bệ đỡ tinh thần, là cội rễ văn hóa) và vốn con người.

Khi nhìn vào và thảo luận về các nguồn lực phát triển cho vùng dân tộc thiểu số ở miền núi, sau khi lấy cơ hội trừ đi thách thức, lấy điểm mạnh trừ đi điểm yếu, tôi e rằng không thể tránh được rất nhiều nỗi lo lắng về miền núi. Dù gì chúng ta cũng phải phân tích dựa trên bằng chứng.

Chú thích: Sạt lở sau bão số 3 ở thôn Tả Suối Câu, xã A Lù, Bát Xát, Lào Cai 19-9-2024 Ảnh: Đỗ Trọng Hiệp

Đầu tiên là về rừng. Điều chúng ta tự hào là độ che phủ tốt (hơn 42%) không khỏa lấp được con số rừng giàu đóng tán chỉ chiếm 4,6% tổng độ che phủ rừng, theo báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) .

Điều ấy có ảnh hưởng gì trong bối cảnh các thảm họa như lũ quét, sạt lở đất ngày càng tăng? Vai trò của rừng giàu đa dạng sinh học trong giảm lũ lụt, lũ quét đã được phân tích, có thực nghiệm và được công nhận từ hàng nửa thế kỷ nay. Về vai trò của rừng trong phòng chống sạt lở, khoảng chục năm trở lại đây có nhiều báo cáo ghi nhận. 

Tiêu biểu, báo cáo của FAO về vai trò của rừng trong phòng tránh sạt lở đã nhận xét: rừng có đa dạng sinh học, rừng giàu thường liên quan đến tái sinh tự nhiên có thể làm tăng độ ổn định của độ dốc cao hơn rừng với cây độc canh và ở cùng một độ tuổi.

Báo cáo lưu ý rằng không thể nhìn thấy ngay hệ quả của việc suy giảm rừng giàu, rừng tự nhiên lên các thảm họa như lũ quét, sạt lở, có thể nhiều năm sau đó mới thấy hệ quả và rồi hệ quả tiếp tục kéo dài hàng chục năm cho đến khi phục hồi được hệ sinh thái rừng giàu. 

Chẳng hạn, riêng với sạt lở đất, lở đất bắt đầu gia tăng khi rễ cây mục nát vào khoảng ba năm sau khi phá rừng và khả năng bị tổn thương vẫn ở mức cao cho đến khoảng 15 năm khi rễ của rừng tái sinh trưởng thành.

Một mảng sạt lở ở xã Hồ Bốn, Mù Cang Chải – có thể nhìn thấy những mảng sạt lở lớn này bất kỳ đâu ở các xã Lao Chải, Khao Mang, Hồ Bốn, huyện Mù Cang Chải sau cơn lũ tháng 8-2023.

Về xu hướng sẽ còn gia tăng các thảm họa lũ quét sạt lở, chúng ta không có số liệu theo thời gian với khung thời gian dài cho thấy xu hướng ở riêng Việt Nam nhưng có số liệu chung của châu Á. 

Dữ liệu cho thấy tần suất lở đất gây tử vong hoặc ảnh hưởng đến người dân ở châu Á đã tăng hơn 5 lần kể từ những năm 1970 – 2009 (thậm chí số người tử vong do các vụ lở đất do lượng mưa gây ra ước tính cao hơn khoảng 6 lần so với các vụ lở đất do động đất gây ra). Các tính toán này còn chưa tính đến hiện tượng thời tiết cực đoan gần đây, hệ quả của biến đổi khí hậu đang đến ngày càng nhiều.

Trong khi khôi phục hệ sinh thái đòi hỏi quá trình rất dài thì miền núi lại đang đối diện với ngày càng nhiều nguy cơ, chủ yếu từ sạt lở và lũ quét chồng chập và các nguyên nhân rất phức tạp. 

Hiện nay, ngoài bản đồ, chưa có các dữ liệu chung, khảo sát theo khung thời gian dài cho cả bức tranh tổng thể về xu hướng lũ lụt sạt lở cũng như bóc tách mọi nguyên nhân với tất cả các điểm ở miền núi phía Bắc, nhưng tìm các phân tích ở một số điểm giúp chúng ta hình dung được nguy cơ rất lớn và đang ngày càng tăng.

Chẳng hạn, một nghiên cứu, mới xuất bản đầu năm 2024, phân tích 226 điểm dễ xảy ra lũ quét và 452 điểm dữ liệu lịch sử để dự đoán xác suất xảy ra lũ quét và xây dựng bản đồ nguy cơ lũ quét từ 2013-2022 ở huyện Mường La (Sơn La) cho thấy khu vực được phân loại là “có khả năng xảy ra lũ quét cao” và “rất cao” trong giai đoạn 2013-2022 tăng lên 11,7% so với giai đoạn 2001-2010.

Nghiên cứu cũng cho thấy nguyên nhân có thể đến từ việc thay đổi mục đích sử dụng đất, làm giảm độ che phủ đất như nạn phá rừng, đô thị hóa hoặc các hoạt động nông nghiệp làm gia tăng lũ quét… 

Trong khi các thông số về mật độ che phủ thực vật giảm đi, cho thấy thảm thực vật thưa thớt hoặc đất cằn cỗi, làm giảm khả năng hấp thụ nước và tăng nguy cơ xảy ra dòng chảy bề mặt và lũ quét thì ngược lại, các thông số cho thấy diện tích xây dựng tăng, khiến các khu vực này dễ bị lũ quét hơn do dòng chảy tích tụ nhanh chóng khi có mưa lớn.

Nhìn ở khía cạnh khác như giao thông – yếu tố căn bản nhất trong loạt hạ tầng “điện, đường, trường, trạm” với miền núi, có nghiên cứu đánh giá các nguy cơ lũ lụt với giao thông Tây Bắc quốc lộ 6 – trục đường chính đi lên Tây Bắc – cho thấy hiện trạng phức tạp, nguy cơ với trục giao thông huyết mạch của Tây Bắc này rất cao.

Nghiên cứu này thu thập dữ liệu về các vị trí lũ quét và trượt lở đất trong ba năm 2017, 2018, 2019, gồm 88 điểm lũ quét và 235 điểm trượt lở trên trục đường 115km, tập trung vào phạm vi 3km dọc trục đường nghiên cứu. 

Tổng cộng diện tích có “nguy cơ cao và rất cao” là 60,44% (trong đó 44,89% diện tích nằm trong vùng nguy cơ “rất cao”, 15,55% diện tích có nguy cơ “cao”). Trước hàng loạt nguy cơ như vậy, làm sao biết trước để tránh?

Sạt lở ở xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, Yên Bái sau cơn bão số 3. Ảnh: Thu Quỳnh

Trước những nguy cơ còn chưa bộc lộ hết ấy, các địa phương, hầu hết đều là tỉnh nghèo, huyện nghèo, dù dốc hết sức lực, vẫn cần hỗ trợ rất lớn từ ngân sách trung ương để chạy đuổi khắc phục hậu quả của suy giảm hệ sinh thái rừng, của lũ quét và sạt lở ngày càng trầm trọng.

Năm nay chưa có nhiều số liệu và chưa tổng kết được hậu quả của mưa lũ, sạt lở nhưng riêng năm 2023, chỉ với Mù Cang Chải, chỉ một trận lũ 5-8-2023 đã khiến huyện này thiệt hại 100 tỉ (bằng ⅔ con số thu ngân sách năm 2023 của huyện là 150 tỉ đồng). 

Việc khắc phục, cơ bản nhất là tìm nơi ở mới, xây dựng nhà ở cho các hộ đã bị hỏng nhà cửa hoặc có nguy cơ mất an toàn cũng rất khó khăn. Hồng Nhì Pá là một trong hai khu tái định cư tập trung mà huyện Mù Cang Chải thu xếp san ủi được sau trận lũ (mỗi khu chỉ có thể ở tập trung được hơn 10-15 hộ), còn lại phải tìm các điểm tái định cư xen kẹp chứ quỹ đất cũng không có nhiều.

Trong chuyến công tác năm ngoái, tôi trao đổi với GS.TS Đỗ Minh Đức và các chuyên gia Viện địa công nghệ và môi trường, Trường ĐH KHTN, ĐHQG Hà Nội ngay tại Mù Cang Chải khi ông lên đánh giá nguy cơ sạt lở ở đây. Cả giáo sư Đức và các cán bộ địa phương đều đánh giá nếu xu hướng lũ quét, sạt lở gia tăng, việc thu xếp để di dời người dân đến chỗ an toàn sẽ ngày càng khó khăn hơn do quỹ đất eo hẹp, giải phóng quỹ đất rộng cần nguồn ngân sách quá lớn. 

Những đề xuất quy mô lớn “tập trung khối lượng đủ lớn dân cư để đảm bảo an toàn tái định cư cho cả thôn hoặc xã chẳng hạn” sẽ cần tới kinh phí từ trung ương. Riêng việc xử lý được một số khối trượt hiện vẫn đang tồn tại ở ngay tại thị trấn Mù Cang Chải cũng vượt quá khả năng của huyện hoặc của tỉnh. 

Chỉ một huyện đã như vậy, hãy hình dung tái định cư, tái cấu trúc không gian sống của người dân tộc thiểu số ở miền núi ra khỏi các khu vực nguy cơ cần nhiều thời gian và nguồn lực tài chính khổng lồ tới mức nào.

Từ quá khứ đến tương lai

Đi tìm một không gian đủ an toàn, ổn định vẫn còn khó khăn, vậy cơ hội phát triển kinh tế ở những vùng này sẽ như thế nào?

Muốn biết tương lai ra sao, cần nhìn về nguồn lực trong quá khứ. Khi rừng giàu đa dạng sinh học suy giảm, những huyền thoại về miền núi giàu có trù phú tài nguyên giờ đây đã xa xôi. Vào những năm 2010, gần 2/3 dân số các nhóm dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc sống dưới mức nghèo khổ và khoảng 42% sống dưới mức nghèo khổ cùng cực.

Người nghèo ở vùng này cũng nghèo hơn nhiều so với người nghèo dân tộc thiểu số ở các vùng khác. Khoảng cách nghèo đói ở nhóm này gần gấp ba lần người nghèo dân tộc thiểu số khác và gấp khoảng 10 lần người nghèo Kinh/Hoa. Ở thời điểm đó, các nhà nghiên cứu đánh giá người nghèo dân tộc thiểu số ở vùng núi Tây Bắc là người nghèo nhất theo bất kỳ thước đo nào về nghèo đói.

Sau khoảng 10 năm, quả thực cũng có những nhóm khá hơn lên nhưng khi xét đến sự phát triển của một cộng đồng thì đa phần các nhóm dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc không có tài sản gì nhiều, các nhóm dân tộc thiểu số ít người ở vùng sâu vùng xa có tỉ lệ nghèo và cận nghèo lên tới 70%, thậm chí ở một số dân tộc còn là 80% và tỉ lệ nghèo cùng cực vẫn là 45,5% (tụt lại quá xa so với người Kinh/Hoa, có tỉ lệ nghèo cùng cực chỉ là 2,9%).

Sùng Thị Dua trong căn nhà mới được chính quyền trợ cấp, dựng lại ở bản Hồng Nhì Pá, xã Lao Chải, Mù Cang Chải. Nhà cũ bị sạt lở phải di dời khẩn cấp. Chỗ nồi niêu xoong chảo đó là tất cả tài sản Dua mang được từ nhà cũ qua.

Trước tình cảnh khó khăn khi làm nông nghiệp ngày càng không đủ sống, nguồn lợi từ rừng ít ỏi, một chiến lược sinh kế của người dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc những năm gần đây là di cư tìm việc làm ở đô thị mặc dù đây cũng là một con đường chẳng dễ dàng, bởi họ không có trình độ và kỹ năng, thường chỉ làm được các công việc phi chính thức, bấp bênh, đồng lương rẻ mạt. 

Gần đây một số tính toán của các nhà kinh tế cho thấy bằng chứng rõ ràng về quyết định di cư của lao động làm nông nghiệp chịu ảnh hưởng từ sức ép môi trường, cho thấy rõ mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng thời tiết cực đoan bao gồm mưa rất lớn, nóng hoặc lạnh cực đoan với xu hướng di cư.

Một nghiên cứu khác, phân tích dữ liệu từ Điều tra tiếp cận nguồn lực của hộ gia đình trong cả nước, cho thấy trong khoảng 10 năm gần đây, những nơi chịu lũ lụt ngày càng thường xuyên hoặc nghiêm trọng hơn, thì người dân thường di cư nhiều hơn, cứ rủi ro lũ lụt tăng lên thì số người di cư lâu dài sẽ tăng lên. Đặc biệt, “các xã nơi lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn hoặc nghiêm trọng hơn trong thập kỷ qua cũng có lượng di cư nhiều hơn đáng kể”, nghiên cứu kết luận.

Còn nhìn về nguồn lực con người cho tương lai, thật bất định khi học sinh các nhóm dân tộc thiểu số khó khăn nhất ít có khả năng đi học nhất. Đơn cử, trong các dân tộc, dân tộc Mông có tỉ lệ trẻ em ngoài nhà trường (khái niệm trẻ em ngoài nhà trường: đúng ra trẻ phải theo học một cấp học nào đó nhưng không đi học ở cấp học đó) ở cấp THCS cao nhất gấp gần 7 lần mức trung bình của cả nước. Tỉ lệ không chuyển cấp ở dân tộc Mông cũng cao nhất, gần gấp 3 lần so với các dân tộc khác. 

Học vấn thấp sẽ khiến các em sau này càng ít cơ hội vươn lên thoát nghèo. Trong khi bằng chứng nghiên cứu từ nhiều nước đã chứng minh mỗi năm đi học giúp tăng thu nhập thêm 8-10%, ngược lại cứ giảm mỗi 1/3 năm học thì thu nhập trong đời người bị giảm 3%.

Hãy nhìn lại những phát hiện khoa học khác – tạm gọi là về tính di truyền của kiếp nghèo – về khả năng vươn lên thay đổi vận mệnh của con cái phụ thuộc rất nhiều vào trình độ hiểu biết của cha mẹ. 

Trong cùng một điều kiện kinh tế – xã hội thì khả năng vươn lên, chuyển đổi nghề nghiệp của người con trong gia đình có bố là lao động tay chân kém so với người có bố là lao động trí óc tới 17 lần. Đặt trong bối cảnh các cú sốc thiên tai ngày càng nhiều và trình độ học vấn thấp hơn hẳn so với các nhóm khác thì thế hệ sau của người dân tộc thiểu số càng ít có cơ hội thay đổi số phận.

Nơi ta đặt vào một tia hy vọng

Vậy có cách nào phát triển được cộng đồng dân tộc thiểu số ở miền núi? Giả sử vượt qua được những khó khăn ở trên để có môi trường sống an toàn, thì cách thức nào hỗ trợ những người miền núi có trình độ học vấn rất thấp phát triển kinh tế được? Tôi cố gắng nhìn vào những trường hợp “điển hình tiên tiến” từng gặp ở các bản làng miền núi.

Quả thực đã có một số nhóm có chất lượng sống tốt hơn, có những thanh niên thoát nghèo, những anh giám đốc cần mẫn phát triển được doanh nghiệp nhỏ bé từ tri thức bản địa và cảnh quan độc đáo (chủ yếu gồm nông sản, dược liệu, homestay du lịch). Họ vừa có khả năng học tập vừa được sự hướng dẫn chặt chẽ của những nhóm phát triển cộng đồng.

Nhưng những tấm gương ấy vẫn còn quá ít, ở mỗi xã tôi đến chỉ điểm được dăm bảy người như vậy và họ cũng trày vi tróc vảy mới phát triển được. Bởi, dù ngay cả khi có cùng xuất phát điểm, như trình độ học vấn, thì cũng giống như người Kinh ở thành phố hay đồng bằng, các nhóm người dân tộc thiểu số khởi nghiệp sản xuất hay kinh doanh đều mắc vào đủ các vấn đề. 

Từ phân tích SWOT về các nguồn lực sinh kế hộ gia đình (hoặc nhóm hộ, HTX) đang có, phát triển sản phẩm độc đáo, đánh giá thị trường, tìm đầu ra, quảng bá ra thị trường, kết nối nhân lực đến những chiến lược marketing bán hàng rất cụ thể như đánh giá đối thủ, chào hàng ở đâu, làm thế nào nổi bật và khác biệt, hay đơn giản như thiết kế cái vỏ hộp sản phẩm như thế nào cho ấn tượng, nhắm trúng khách hàng mục tiêu… tất thảy đều thách thức với bất kỳ hộ kinh doanh/HTX nào.

Bước vào thị trường, không ai mua bán bằng tình thương, bằng cứu trợ như cách Nhà nước và các tổ chức vẫn cứu trợ miền núi mỗi mùa mưa. Thị trường mua bán nhờ vào sản phẩm chất lượng cao và ổn định, nhờ chiến lược tiếp thị khôn ngoan độc đáo. 

Chứng kiến các nhóm dân tộc thiểu số khởi nghiệp từ vốn gần như 0 đồng tôi mới biết có cả trăm điểm vướng mắc cần đến người hướng dẫn, từ cách thức nghiên cứu sản phẩm tri thức tộc người, chuyển đổi những sản vật, công thức đặc trưng của tộc người thành sản phẩm công nghiệp đạt quy chuẩn vào thị trường đến vay mượn, quản lý dòng tiền… tất thảy đều xa lạ với người miền núi.

Khu tái định cư ở bản Hồng Nhì Pá, xã Lao Chải, huyện Mù Cang Chải, mới được xây dựng sau trận lũ 5-8-2023

Trong điều kiện như thế, nếu chỉ bằng cái nhìn quá giản đơn, cho rằng hỗ trợ một vài chương trình vay vốn, hỗ trợ ở quy mô hộ gia đình trồng cây gì nuôi con gì là xong cả một chuỗi dài thị trường đằng đẵng, ai làm?

Để biến những thế mạnh có sẵn về cảnh quan, sản phẩm độc đáo… thành tiền đòi hỏi phải đầu tư. Người miền núi sẽ đầu tư như thế nào khi kiến thức quản lý bằng không, nguồn lực tài chính rất ít ỏi, rào cản ngôn ngữ quá lớn? Người hướng dẫn nào, doanh nghiệp nào đồng hành với những người mà tiếng Kinh còn chưa thạo như vậy và sẵn sàng bỏ tới 10-20 năm đồng hành?

Một trong những người hướng dẫn hiếm hoi có tiếng là gan lì với miền núi, am hiểu miền núi nhờ xuất thân từ người thiểu số ở miền núi như PGS.TS Trần Văn Ơn (ĐH Dược, sáng lập DK Pharma) mà lặn lội cả cuộc đời cũng chỉ hỗ trợ được cho hơn hai chục nhóm thiểu số để phát triển dược liệu kết hợp du lịch ở miền núi, trong đó cũng chỉ có 1/3 nhóm thành công tốt, 1/3 ở mức trung bình và 1/3 rất chật vật để sống sót. 

Đó là chưa kể cứ “đụng” vào những thứ ông không rành, như thuế má chứng từ, kiến trúc, xây dựng nhà xưởng, ông phải mời ngay nhóm khác có chuyên môn lên hỗ trợ.

Nếu không có ít vốn liếng, kiến thức và khả năng học hỏi hay người hướng dẫn sát sao, đa phần người dân tộc thiểu số chỉ có thể tiếp tục bán sức lao động, dù di cư hay trên quê hương mình, ở những công đoạn đơn giản nhất.

Điều đó đòi hỏi những chương trình phát triển miền núi, vừa quyết tâm lớn đến độ giải quyết được hết những nguy cơ rủi ro cho đến đầu tư dài hơi bền bỉ để phát triển miền núi từ những nhóm thiểu số, bằng cách nâng cao tri thức từ người lớn đến học sinh đang trên ghế nhà trường, bằng cách cầm tay chỉ việc, bằng hàng trăm buổi học, bằng hỗ trợ nghiên cứu phát triển sản phẩm, hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ, cần đến mạng lưới hàng trăm mentor từ nhà lý thuyết khởi nghiệp, lý thuyết quản trị cho đến những chủ doanh nghiệp dày dặn trận mạc, vay vốn và quản trị dòng tiền…

Ai sẽ lặn lội làm điều đó, cho miền núi? 

Ở Việt Nam chúng ta ít thấy các nghiên cứu thực nghiệm, nhưng trên thế giới hiệu quả của rừng trong việc ổn định ở khu vực dốc được chứng minh bằng dữ liệu thực nghiệm về sạt lở sau khi phá rừng đột ngột.

Chẳng hạn, một trong những nghiên cứu đầu tiên đánh giá tác động của việc chặt phá rừng đối với sạt lở đất đã xem xét dữ liệu từ đông nam Alaska. Cả tần suất và diện tích cộng dồn của các trận lở đất đều tăng mạnh sau khi khai thác gỗ (bắt đầu tăng 2-3 năm sau khi khai thác gỗ, trùng với thời điểm rễ cây bị mục nát và rễ không còn cố kết được đất).

Tần suất các trận lở đất và dòng chảy đất đá tăng đáng kể trong 9 năm cho đến khi thảm thực vật rừng được phục hồi. Diện tích chịu tác động của sạt lở đất trong giai đoạn này lớn hơn 5 lần so với diện tích bị lở đất ước tính trong giai đoạn 100 năm trước khi khai thác gỗ.

Rõ ràng, giữ được rừng đa dạng sinh học là điều tối quan trọng với miền núi. Nhìn chung rừng giàu với đa dạng cây và rễ sâu đan bện dày đặc làm giảm được lũ quét sạt lở đất, giúp gia cố đất (dù với các trận sạt lở sâu và rất lớn do mưa quá lớn liên tục hay động đất thì vai trò của rừng cũng bị hạn chế).

Đường trở thành luật sư của cô gái Mông ba lần bị bắt làm vợ

VNE – Thứ tư, 6/3/2024, 06:00 (GMT+7)

YÊN BÁI – Lần thứ ba bị người lạ “kéo vợ”, Sùng Thị Sơ đã định nhảy xuống vách núi nhưng sợ bị thương, không đi thi đại học được.

Kế hoạch của cô gái 18 tuổi cách đây gần bốn năm là chờ tới đêm rồi trốn khỏi nhà người đã bắt mình. Nhưng điện thoại đã bị thu mất, xung quanh không có đèn, đường lại toàn vách núi nên kế hoạch bị phá sản. Để tránh bị xâm hại, Sơ thức trắng hai đêm kể cả khi bị họ ép buộc, thậm chí đánh đập. Khi gọi điện được cho bố mẹ, thuyết phục gia đình người “kéo vợ” đưa về nhà, Sơ vẫn không tin vào may mắn này bởi chưa cô gái nào trong bản bị bắt mà được trở về.

Vài tháng sau đó Sùng Thị Sơ, sinh năm 2002, quê huyện Trấn Yên đã đỗ Đại học Luật Hà Nội với số điểm 28,5. Cùng năm, cô được trao giải học sinh, sinh viên dân tộc xuất sắc nhất năm học 2020-2021.

“Sau ba lần bị bắt làm vợ, tôi quyết tâm thi vào ngành Luật. Tôi muốn những bạn gái vùng sâu vùng xa như mình được đi học, được tôn trọng và tự do lựa chọn trong hôn nhân”, Sơ nói.

Sùng Thị Sơ trong lễ tốt nghiệp cấp 3 năm học 2020-2021. Ảnh: Nhân vật cung cấp
Tiếp tục đọc “Đường trở thành luật sư của cô gái Mông ba lần bị bắt làm vợ”

Quay về dãy Trường Sơn trồng rừng

A RÂL DIÊU – 27/02/2024 05:32 GMT+7

TTCTCâu chuyện trồng rừng của anh A Râl Diêu, sinh năm 1997, ở xã Chà Val, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam.

Diêu và con gái

Là người Cơ Tu, sinh ra và lớn lên ở dãy Trường Sơn hùng vĩ và huyền thoại, từ nhỏ mình đã theo chân cha đi rừng, nghe cha kể chuyện rừng sâu nơi không ai dám tới.

Năm 2015, mình đậu Đại học Nông lâm Huế chuyên ngành lâm nghiệp. Bỏ lại rừng núi phía sau, mình gói ghém đồ đạc ra đi với mong muốn thay đổi cuộc đời.

Tiếp tục đọc “Quay về dãy Trường Sơn trồng rừng”

Corn in peril: Viet Nam’s Hmong struggle to save indigenous seeds

Mekongeye.com

By Khang A Tủa and Alex Nguyễn 29 January 2024 at 18:36 (Updated on 30 January 2024 at 10:29)

After decades of pursuing development goals, Hmong people in northern Viet Nam face a battle to preserve disappearing indigenous corn

Cúa bua (in Vietnamese), or quav npua (in Hmong) , an indigenous corn variety in Chế Cu Nha, Mù Cang Chải district, Yên Bái province.

YÊN BÁI & SƠN LA, VIET NAM – Early one winter morning, Khang Chờ Dê of Chế Cu Nha hamlet in Yên Bái province was woken by loud knocking on his door. Sào, his relative, needed some red corn kernels, an indigenous crop used by Hmong people in northern Viet Nam for spiritual offerings to ward off bad luck.

The son of a shaman, Dê understood the importance of red corn in ritual practices. He quickly took some kernels from his kitchen, wrapped them up neatly and handed them to his relative.

Back in bed, the 46-year-old farmer pondered the scarcity of the indigenous cúa bua (in Vietnamese), or quav npua (in Hmong)corn seeds in Chế Cu Nha, his family’s ancestral home. For generations, indigenous corn crops have been essential to Hmong spiritual and cultural traditions, as well as helping to strengthening their autonomy in agricultural cultivation.

Source: Mapbox
Tiếp tục đọc “Corn in peril: Viet Nam’s Hmong struggle to save indigenous seeds”

Vòng lặp đói nghèo trước sự bất định của tự nhiên

tia sáng – 18-1-2024

Sự suy giảm nghiêm trọng của không gian sinh tồn là đại ngàn và sự bất trắc của thiên tai, biến đổi khí hậu đã khép chặt vòng lặp đói nghèo ở người dân tộc thiểu số. Liệu có lối thoát cho họ?

Bơ vơ trong không gian sinh tồn

“Lúc chập tối, tầm 7 giờ, cả nhà đang ăn cơm thì mưa to, tôi nghe tiếng sạt ở nhà bên cạnh nên cầm đèn pin soi xung quanh thấy ầm ầm toàn cây, nước và đất đá đen sì đổ từ phía bản Đề Sủa (xã Lao Chải) về nên gọi vợ con bế hai đứa cháu chạy lên núi. Tôi chẳng kịp mặc thêm áo, chỉ mặc mỗi cái quần, tay cầm điện thoại, đèn pin và cây gậy to đi khắp các nhà trong khu, đập cửa, hô hoán “có chạy không là chết, lũ về” ”.

“Không kịp mang theo cái gì ngoài cái thân mình thôi”, A Lầu kể lại điều diễn ra trong ngày mà ông và dân làng không bao giờ quên, ngày 5 tháng 8, “Không kịp nghĩ gì nữa, phản xạ lao ra khỏi nhà. Không có đường, cứ bò, men theo núi”, trong đêm đen, A Lầu cùng 47 hộ trong bản Trống Là, sát ven suối Nậm Kim của xã Hồ Bốn, huyện Mù Cang Chải, Yên Bái, vượt núi đến gần sáng mới tới được bản Nả Tà trú ẩn.

Gia đình A Lầu vẫn còn may mắn hơn hàng xóm Cứ A Tùng và Giàng Thị Chù. Trong cơn tứ tán, gia đình A Tùng chạy vào trạm y tế xã vì ngỡ nơi đây kiên cố nhưng rồi lũ tiếp tục cuốn vào, hai vợ chồng bế hai đứa trẻ vội băng qua suối “nước dâng tới bụng, tới lưng” người lớn và quay lại đã không còn thấy bố của Tùng nữa. Hai ngày sau, người ta tìm thấy ông ở thủy điện Huội Quảng, huyện Mường La, Sơn La.

Lũ phá tan toàn bộ tuyến đường huyết mạch vào xã Hồ Bốn. Ảnh một ngày sau trận lũ 5/8/2023. Tác giả: Việt Cường.
Tiếp tục đọc “Vòng lặp đói nghèo trước sự bất định của tự nhiên”

Giáo dục cho trẻ dân tộc thiểu số: Bất cập và cản trở

Tia sángĐỖ THỊ NGỌC QUYÊN

Trong bối cảnh các nguồn lực tài chính ở vùng dân tộc thiểu số rất hạn hẹp, nguồn lực tự nhiên ngày càng suy kiệt thì cơ hội vươn lên với từng cá nhân, từng gia đình, cơ hội phát triển với các vùng dân tộc thiểu số nằm ở nguồn lực con người. Tuy nhiên, trẻ em ở vùng trũng về giáo dục này khó có cơ hội vươn lên, nếu chính sách giáo dục cho vùng dân tộc thiểu số chưa thay đổi cách tiếp cận.

Tỷ lệ trẻ không đi học ở các DTTS Khmer, Mông và các dân tộc ít người khác cao gấp 4-7 lần so với trẻ thuộc nhóm người Kinh – Hoa, Tày, Thái, Mường, Nùng. Ảnh: Shutter

Tiếp tục đọc “Giáo dục cho trẻ dân tộc thiểu số: Bất cập và cản trở”

Human rights top of agenda in Việt Nam

VNN – November 23, 2023 – 17:16

What is more impressive is that some EM groups with a population of fewer than 1,000 have had a say in the legislative body.

EM deputies from Cao Bằng Province in their meeting with the president in 2022. — VNA/VNS Photo Thống Nhất

HÀ NỘI — Ethnic minorities’ (EM) representation in the National Assembly (NA) is a fundamental tenet of Việt Nam’s political doctrine; the country has spared no effort in ensuring they are presented from the top.

Tiếp tục đọc “Human rights top of agenda in Việt Nam”

Nhuộm chàm ở thung lũng Khói xanh và 3 cô gái Sín Chải

CODET HANOI 23/11/2023 11:58 GMT+7

TTCT Ở nơi kỹ thuật cắt may hiện đại và kỹ thuật nhuộm chàm cổ xưa gặp nhau.

Tháng 11 này, những người đến xem triển lãm Khói xanh của ba cô gái Sín Chải (Sa Pa) với các nhà thiết kế, học viên tại Trường London College Design & Fashion (LCDF) đã được chứng kiến một sự kết hợp duyên dáng giữa hiện đại và truyền thống trên những sản phẩm có hiệu ứng thị giác và tính ứng dụng cao.

Thế hệ trẻ Mông vùng Tây Bắc đất nước đã tiếp nhận kỹ thuật hiện đại và các nhà thiết kế trẻ đã khám phá những tinh tế tiềm ẩn trong chất liệu vải lanh bản địa, trong kỹ thuật nhuộm chàm, thêu, xe sợi, vẽ sáp ong

Đằng sau những sản phẩm đó, điều gì đã và đang diễn ra?

Nguyễn Thị Phương Mai và Nguyễn Bình Đức là những người thuộc thế hệ 8X tại Hà Nội, một người là kiến trúc sư, một người làm công nghệ và viết văn.

Nhiều năm trước, trong một lần leo Fansipan, vợ chồng họ gặp anh Vàng A Chư lúc đó đang làm trưởng đội porter dẫn đoàn leo Fansipan. Người thủ lĩnh porter ấy đã gây ấn tượng mạnh đến mức Mai – Đức tìm tới tận nhà Vàng A Chư tại bản Sín Chải, xã San Sả Hồ, Sa Pa.

Tiếp tục đọc “Nhuộm chàm ở thung lũng Khói xanh và 3 cô gái Sín Chải”

Soldiers teach special classes for ethnic people in Tây Nguyên

VNN – November 11, 2023 – 08:09

The classes not only help Jrai ethnic people in the village learn to read and write, but also contribute to raising people’s awareness and responsibility in protecting the national borders.

Many JRai students have to bring their children to literacy classes. — VNA/VNS Photo

GIA LAI — Border soldiers in the Tây Nguyên (Central Highlands) province of Gia Lai are assuming the role of teachers to eliminate illiteracy among local ethnic people. 

The residential area of Suối Khôn in the border commune of Ia Mơ, Chu Prông District has 561 residents of the Jrai ethnic minority group, with most of them being very poor.

Currently, there are 71 illiterate people, accounting for 10 per cent of the area’s population.

Ia Lốp Border Guard Station opened classes to teach people and the soldiers are their teachers.

The classes not only help Jrai ethnic people in the village learn to read and write, but also contribute to raising people’s awareness and responsibility in protecting the national borders.

To get to Suối Khôn Residential Area, it takes more than two hours to travel from the city of Pleiku to Ia Pier Commune, then through a dirt road of more than ten kilometres full of mud and slush.

Lieutenant Colonel Nguyễn Văn Thành, secretary of the station’s Party Committee, said that there were 71 Jrai ethnic people who were illiterate, of which 45 people wanted to learn.

The station’s leaders decided to open classes to teach the illiterate people.

Since earlier this year, Ia Lốp Border Guard Station has organised two four-month literacy classes for the Jrai ethnic minority with 25 students.

The teachers are soldiers including Lieutenant Colonel Vũ Văn Hoàng, who teaches math, and Captain Nguyễn Văn Luân, who teaches Vietnamese language.

The entire programme uses literacy learning materials compiled by the Ministry of Education and Training.

The classes, which take place three evenings per week, received the professional support of Hoàng Hoa Thám Primary School in neighbouring Ia Piơr Commune.

Captain Nguyễn Văn Luân said that the journey of mobilising people to come to class encountered many hardships.

“The weather conditions here are very harsh. People mainly work in agriculture and their lives are very difficult,” Luân said.

“Ethnic minorities often feel an inferiority complex and have low self-esteem so they are timid in communication,” Luân said.

“Therefore, we had to go to each household to mobilise and encourage them to boldly come to class,” the captain said.

Soldiers cum teachers of Ia Lốp Border Guard Station come directly to local residents’ houses to urge them to attend literacy classes. — VNA/VNS Photo

Getting people to come to school was difficult, and maintaining class size was even more difficult.

Lieutenant Colonel Vũ Văn Hoàng said that the classes started in the evening, but in the afternoon the teachers had to go to each house to remind people of the class.

Because the students’ ages ranged from 16 to 60, organising classes and teaching methods must be flexible, especially during the crop season. Students have to work hard during the day so many of them cannot attend classes in the evening, said Hoàng.

“So to maintain the classes, the border guard soldiers had to come to help people with farm work or take care of their children to help them feel secure and focus on their studies,” said Hoàng.

Change of life

Kpui H’Lép, 27, is one of the outstanding students. After only four months of studying, she was able to read and write fluently.

H’Lep happily said: “Before, I was illiterate, very self-conscious and shy. I was always oppressed when doing business and criticised when doing housework.”

“But now it is different. I learned how to read and calculate. I thanked the teachers for helping me and other people in the village to have a better life,” she said.

Another student, Rơ Lan H’Cúc, 26, residing in Sâm Village, Ia Piơr Commune, has a two-year-old daughter whom she has to carry to evening classes.

Rơ Lan H’Cúc often sits at the back of the class but is very diligent and serious.

“I regretted not being literate earlier. Now I have the opportunity to learn many things from teachers. The teachers not only taught us how to read and write but also gave us books, pens, babysitting and farming instructions,” Rơ Lan H’Cúc said.

“I am very grateful to the teachers,” she said.

Suối Khôn residential area was formed in 2003. Most of residents are the Jrai ethnic minority.

Since its formation until now, this residential area has not yet received basic investment in electricity, roads, and schools, and people haven’t fully benefited from social security policies.

The reason is because this land belongs to the administrative boundaries of Ia Mơ Commune but the population is managed by another commune, Ia Piơr Commune.

Hà Văn Tin, vice chairman of the People’s Committee of Ia Piơr Commune, Chu Prông District, said that the authorities of Ia Piơr and Ia Mơ communes and the people in the area hoped that the competent authorities would soon allow the establishment of Khôl Village under Ia Mơ Commune according to a project since April 2022.

This is a condition for Suối Khôn Residential Area to be better managed and develop in the future, Tin said. — VNS

Soldiers of the Ia Lốp Border Guard Station teach literary classes for JRai ethnic minority people. — VNA/VNS Photo

Thanh thiếu niên dân tộc thiểu số và những rủi ro liênquan đến mua bán người trên mạng xã hội

Nghiên cứu tại Hà Giang, Điện Biên và Lào Cai

Nghiên cứu “Thanh thiếu niên dân tộc thiểu số và những rủi ro liên quan đến mua
bán người trên mạng xã hội” được thực hiện bởi Viện iSEE, Blue Dragon với sự hỗ
trợ tài chính và kỹ thuật của SecDev vào đầu năm 2021 tại Điện Biên, Hà Giang
(hiện là địa bàn hoạt động của Blue Dragon) và Lào Cai (chưa có hoạt động của
Blue Dragon), với mục tiêu tìm hiểu về thực trạng sử dụng Mạng Xã Hội và các
dịch vụ Internet của thanh thiếu niên Dân tộc Thiểu số cũng như những rủi ro
họ gặp phải liên quan đến nạn mua bán người hiện nay, từ đó đưa ra khuyến nghị
thiết thực cho các thông điệp và can thiệp truyền thông.
Nghiên cứu này được thiết kế kết hợp giữa một điều tra định lượng với 624 học
sinh và thanh thiểu niên DTTS tại Hà Giang và Điện Biên (bao gồm 40.9% dân
tộc Mông, 39.6% dân tộc Thái, còn lại gồm các dân tộc Khơ Mú, Dao, Tày, Giáy,
vv..), và một nghiên cứu định tính dựa trên 14 TLN và 34 PVS trực tiếp với thanh
thiếu niên, học sinh, giáo viên tại ba địa bàn nghiên cứu và cán bộ chương trình
của Blue Dragon.

Tải báo cáo tại đây https://www.isee.org.vn/thu-vien/nghien-cuu-thanh-thieu-nien-dan-toc-thieu-so

Đồng hành phát triển: Bài học từ hành trình hơn một thập kỷ làm viẹc cùng các cộng đồng dân tộc thiểu số tại Việt Nam

Xem báo cáo tại đây

Hơn 10 năm làm chương trình Dân tộc thiểu số của viện iSEE là 10 năm của học hỏi và bồi đắp thêm tri thức về phát triển. Những lý thuyết, những phương pháp tiếp cận chúng tôi viết trong tài liệu này là những kết quả của quá trình phản tư và học liên tục để lựa chọn chứ không phải là thứ được chọn ngay tại thời điểm khai sinh của chương trình năm 2008. Trong cả tiến trình ấy, điểm neo chúng tôi lại để chất vấn, phản tư, và học hỏi là những giá trị của iSEE – Tự do, Bình đẳng, Khoan dung – và tầm nhìn về vấn đề mà iSEE muốn thay đổi, là vẻ đẹp trong cách nghĩ, cách sống của các thành viên nhóm Tiên phong và cộng đồng của các anh chị tại địa phương.

Trên chặng đường hoạt động và xây dựng chương trình Dân tộc thiểu số, chúng tôi đi lên từ những nghiên cứu
dưới góc tiếp cận nhân học, lấy trải nghiệm và hoạt động của cộng đồng các tộc người thiểu số làm trung tâm.
Trong quá trình này, chúng tôi đã nhìn thấy chính mình trong những phê phán về tư duy phát triển của số đông.
Chúng tôi dần tích lũy tri thức và thấu hiểu hơn những trở ngại mang tính hệ thống đối với các nhóm dân tộc
thiểu số. Một trong những trở ngại lớn nhất là sự chấp nhận một cách thiếu phê phán trên diện rộng đối với tư
duy tiến hoá luận, lối suy nghĩ cho rằng họ luôn mặc nhiên ở nấc thang phát triển thấp hơn so với người Kinh. Với
niềm tin mạnh mẽ vào tính chủ thể và năng lực văn hoá của cộng đồng, và nhất là những thay đổi do chính cộng
đồng tạo ra, trong hơn một thập kỷ qua, chúng tôi đã có cơ hội đồng hành và trải nghiệm hành trình Tự hào – Tự
tin- Tự chủ với cộng đồng các dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam. Mục tiêu của chúng tôi là cùng với họ bồi
đắp khát vọng tạo dựng một tương lai chung, nơi câu chuyện của cộng đồng các dân tộc thiểu số được chia sẻ,
lắng nghe, thấu hiểu, và trở thành một nguồn cảm hứng cho suy tư về bình đẳng và phát triển. Hành trình này
của chúng tôi đi qua rất nhiều thách thức, với nhiều hoài nghi từ bên ngoài cũng như sự phản tư từ chính những
người xây dựng và tham gia. Đó cũng là tiến trình tất yếu để thử thách và củng cố niềm tin vào sức mạnh của cộng
đồng, cũng chính là triết lý phát triển mà chúng tôi đã và đang theo đuổi.


Tài liệu này là một phần trong nỗ lực tái hiện và chia sẻ rộng rãi triết lý phát triển ấy. Với cấu trúc
4 phần có liên hệ chặt chẽ và phản ánh lẫn nhau, chúng tôi bắt đầu với phần Đặt vấn đề lý giải những băn khoăn
và lựa chọn vào thời điểm bắt đầu, tiếp đến giới thiệu các Lý thuyết nền tảng mà chúng tôi đã may mắn được
tiếp cận và học hỏi. Phần 3 minh họa các Chiến lược và hành động mà Viện iSEE đã vận dụng các lý thuyết trong
triển khai thực tế cùng với cộng đồng. Cuối cùng, phần 4 tổng kết những Bài học kinh nghiệm chúng tôi tự đúc
kết sau chặng đường hơn một thập kỷ.


Chúng tôi vô cùng biết ơn các nhà nghiên cứu TS. Phạm Quỳnh Phương, TS. Hoàng Cầm, TS. Nguyễn Thu Giang
đã truyền cảm hứng và giúp chúng tôi tiếp cận với các lý thuyết từ những ngày đầu tiên. Chúng tôi trân trọng
sự ủng hộ và hợp tác của các tổ chức đối tác như Đại sứ quán Ireland, Đại sứ quán Canada, Đại sứ quán Hà Lan,
Ủy ban Dân tộc, Tổ chức CCFD Terre-Solidaire, Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam, Tổ chức Oxfam tại Việt Nam,
Tổ chức Plan International Việt Nam, Trung tâm xây dựng năng lực cộng đồng CECEM v.v. Chúng tôi chân thành
cảm ơn các đồng nghiệp và các tư vấn đã đặt nền móng, cùng xây dựng và chia sẻ trong suốt những năm qua.
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đặc biệt nhất tới các thành viên Mạng lưới Tiên Phong vì tiếng nói của người dân
tộc thiểu số đã tin tưởng và đồng hành với chúng tôi trên hành trình học hỏi và hiện thực hóa niềm tin của mình.
Trong quá trình hoàn thành tài liệu này, chúng tôi được tham vấn và hỗ trợ rất nhiều từ các chuyên gia và các
thế hệ lãnh đạo iSEE – ThS. Lê Quang Bình, Th.S Lương Minh Ngọc và Th.S Lương Thế Huy. Chúng tôi cũng nhận
được sự hỗ trợ nhiệt tình của TS. Nguyễn Thu Giang trong vai trò hiệu đính.


Chúng tôi hy vọng độc giả sẽ tìm được những kiến thức và kinh nghiệm bổ ích qua những chia sẻ của mình,
và hơn thế nữa, có thêm động lực để tiếp tục tìm tòi và khám phá những cách làm mới để tạo ra sự phát triển
có ý nghĩa.