TP – Với gần một triệu doanh nghiệp, khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể, khu vực kinh tế tư nhân hiện đóng góp khoảng 51% GDP, hơn 30% ngân sách Nhà nước, tạo ra hơn 40 triệu việc làm, chiếm hơn 82% tổng số lao động trong nền kinh tế, đóng góp gần 60% vốn đầu tư toàn xã hội.
Dù được coi là thành tố quan trọng để phát triển nền kinh tế, đóng góp ngày càng lớn, kinh tế tư nhân hiện vẫn đối mặt với nhiều rào cản, không thể bứt phá về quy mô và năng lực cạnh tranh.
Bài 1: Nguồn lực chưa được khơi thông
Những hạn chế phát triển của doanh nghiệp tư nhân thời gian qua xuất phát một phần từ những bất cập của hệ thống thể chế, chính sách kinh tế và môi trường kinh doanh. Những điểm nghẽn này không chỉ kìm hãm tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân, khiến tỷ trọng đóng góp của khu vực này trong GDP gần như không thay đổi trong hơn một thập kỷ qua, mà còn cản trở nền kinh tế nâng cao giá trị gia tăng, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình.
Doanh nghiệp tư nhân còn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận nguồn lực, đặc biệt là vốn tín dụng, đất đai, tài nguyên và nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các ngành công nghệ, kỹ thuật và tài chính. Ảnh: Nguyễn BằngTiếp tục đọc “Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng (13 bài)”→
VTV.vn – Việt Nam đang đối mặt với thách thức: Làm sao vừa giữ chân vốn FDI, vừa bịt “lỗ hổng vàng” mang tên chuyển giá.
Việt Nam đang kiểm soát chặt chẽ đầu vào các dự án FDI
Đây là nguyên nhân khiến ngân sách bị thất thoát và môi trường đầu tư méo mó. Trong khi dòng vốn ngoại vẫn được kỳ vọng là động lực tăng trưởng, thì việc nhiều doanh nghiệp báo lỗ kéo dài nhưng liên tục mở rộng quy mô đầu tư đang đặt ra dấu hỏi lớn về tính minh bạch. Nếu không sớm hoàn thiện khung pháp lý và tăng cường năng lực thực thi, chuyển giá sẽ tiếp tục là lỗ hổng làm “chảy máu” ngân sách, làm suy giảm niềm tin vào môi trường đầu tư công bằng và bền vững.
Ô nhiễm không khí đe dọa trực tiếp tới sức khỏe và tính mạng con người. Tại Việt Nam, tình trạng này đang ở mức báo động, đặc biệt ở Hà Nội và TP.HCM. Đáng nói, số liệu về chất lượng không khí tại nhiều địa phương vẫn còn mù mờ, khiến người dân không nắm rõ mức độ ô nhiễm nơi mình sinh sống.
Trước thực trạng này, minh bạch dữ liệu không khí là yếu tố then chốt giúp Nhà nước, người dân và toàn xã hội ý thức rõ về tình trạng không khí và các nguồn gây ô nhiễm. Từ đó, mới có các giải pháp cải thiện không khí hiệu quả và quyết liệt hơn.
Theo nghiên cứu của WHO, hơn 60.000 người tử vong năm 2016 do bệnh tim, đột quỵ, ung thư phổi, phổi tắc nghẽn mạn tính, viêm phổi ở Việt Nam đều có liên quan tới ô nhiễm không khí.
Bệnh nhân tại phòng cấp cứu ở Trung tâm Hô hấp – Bệnh viện Bạch Mai – Ảnh: DANH KHANG
Thương mại điện tử (TMĐT) mang tới trải nghiệm mua sắm tiện lợi, song cũng thải ra môi trường lượng rác thải và khí thải khổng lồ từ khâu đóng gói tới vận chuyển sản phẩm.
Rác thải từ TMĐT là vấn đề môi trường cấp bách, cần được Nhà nước quan tâm và sớm ban hành các quy định cụ thể. Các sàn TMĐT, đơn vị vận chuyển, người bán cũng như người mua cần nâng cao ý thức, chung tay hướng tới giải pháp xanh để bảo vệ môi trường khi tham gia mua bán trực tuyến.
Gánh nặng môi trường từ rác thải nhựa trong thương mại điện tử
Tùng Dương
18/06/2025, 07:36
Thương mại điện tử càng phát triển càng tác động xấu đến môi trường nếu không kiểm soát được rác thải, nhất là rác thải nhựa. Dự báo đến năm 2030, nếu thương mại điện tử Việt Nam có quy mô 100 tỷ USD thì sẽ để lại hơn 800.000 tấn rác thải nhựa và phải tốn rất nhiều nguồn lực để giải quyết vấn đề này.
Câu hỏi 13 năm trước: “Nếu Coca-Cola trốn thuế, ngành Thuế phải chịu trách nhiệm?”, bây giờ “Coca-Cola Việt Nam thua kiện vụ bị truy thu 821 tỷ đồng tiền thuế” rồi, vậy ngành Thuế thì sao?
TP HCM – Coca-Cola Việt Nam đề nghị tòa hủy quyết định của Cục thuế về việc truy thu hơn 821 tỷ đồng tiền thuế, song tòa xác định cơ quan thuế làm đúng pháp luật.
Nhà máy Coca-Cola đặt tại TP HCM. Ảnh: Coca-Cola Việt Nam
Vietnam has a lower GDP (PPP) per capita than Greece because it has a big population, about 10 times of Greece. In fact, Vietnam GDP is nearly double Greece in nominal value and more than triple in PPP.
Of Vietnam GDP, the 2 largest metropolitans of Hanoi (and 3 surrounding provinces) and Saigon (and 3 surrounding provinces) contribute upto 60% approximately USD 0.7T (PPP), about double size of Greece as a whole. That’s being said Greece is just on par with 2 biggest cities in Vietnam. Moreover, Greece is fully grown as it is developed, but Vietnam is still growing, this moment is not the limit of Vietnam. You can see in the very near future, each of the 2 cities of Vietnam will surpass Greece. Vietnam apparantly has better human and financial resources than at least a Greece after debt crisis.
Bảo hiểm xã hội là lưới an toàn cả đời cho cuộc sống của người lao động.
Nhiều doanh nghiệp trong nước cố tình nợ đóng bảo hiểm. Đó là chọc thủng lưới an toàn của người lao động, không những chỉ là phi pháp mà còn là bất nhân và vô đạo đức.
Cơ quan chức năng cùng doanh nghiệp cần sớm giải quyết vấn đề nghiêm trọng này. Cần tăng cường kiểm tra và mạnh tay xử phạt những hành động bất nhân, vô đạo đức và phi pháp này.
Không ít người lao động trên cả nước đang rơi vào tình cảnh khốn đốn vì doanh nghiệp nợ, trốn đóng bảo hiểm xã hội trong thời gian dài dẫn đến không có thẻ BHYT để khám chữa bệnh, không được hưởng chế độ thai sản, nghỉ ốm, tai nạn lao động hay thậm chí mất luôn quyền nhận lương hưu…
Trong khi đó, không ít doanh nghiệp vẫn hoạt động bình thường, né tránh trách nhiệm và đẩy gánh nặng lên vai người lao động. Trước thực trạng đáng báo động này, cơ quan chức năng cần có biện pháp quyết liệt hơn để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động.
China dominates global rare earth mining, but undeveloped reserves elsewhere could reshape future supply chains.
Greenland holds an estimated 1.5 million metric tons of rare earth reserves despite having no commercial production.
U.S. President Donald Trump has once again put Greenland at the center of global attention.
His renewed threat to assert U.S. control over the Arctic territory has drawn sharp reactions from European leaders and Denmark, which governs Greenland as an autonomous territory.
While the island’s strategic location is often cited, another underlying motivation is increasingly tied to its vast mineral potential. In particular, Greenland’s rare earth reserves have become a focal point in a world racing to secure critical resources.
This visualization compares rare earth mine production and reserves across countries, placing Greenland’s untapped resources in a global context.
China remains the backbone of the global rare earth market. In 2024, it produced roughly 270,000 metric tons, accounting for well over half of global output.
China also controls the largest reserves, estimated at 44 million metric tons. This combination of scale and integration gives Beijing significant leverage over industries ranging from electric vehicles to defense systems.
Country
Reserves (Metric Tons)
Rare Earth Production 2024 (Metric Tons)
🇨🇳 China
44.0M
270,000
🇧🇷 Brazil
21.0M
20
🇮🇳 India
6.9M
2,900
🇦🇺 Australia
5.7M
13,000
🇷🇺 Russia
3.8M
2,500
🇻🇳 Vietnam
3.5M
300
🇺🇸 United States
1.9M
45,000
🇬🇱 Greenland
1.5M
0
🇹🇿 Tanzania
890K
0
🇿🇦 South Africa
860K
0
🇨🇦 Canada
830K
0
🇹🇭 Thailand
4.5K
13,000
🇲🇲 Myanmar
0
31,000
🇲🇬 Madagascar
0
2,000
🇲🇾 Malaysia
0
130
🇳🇬 Nigeria
0
13,000
🌍 Other
0
1,100
🌐 World total (rounded)
>90,000,000
390,000
Large Reserves, Limited Production Elsewhere
Outside China, many countries with sizable reserves play only a minor role in production.
Brazil holds an estimated 21 million metric tons of rare earth reserves yet produces almost nothing today. India, Russia, and Vietnam show similar patterns.
Why Greenland Matters
Greenland’s estimated 1.5 million metric tons of rare earth reserves exceed those of countries like Canada and South Africa. Yet the island has never had commercial rare earth production.
Environmental protections, infrastructure constraints, and local political opposition have slowed development. Still, as supply chain security becomes a priority for major economies, Greenland’s position is becoming harder to ignore.
Trump’s interest in Greenland is driven by more than symbolism. Rare earths are essential for advanced manufacturing, clean energy technologies, and military hardware. With China firmly entrenched as the dominant supplier, policymakers in Washington are increasingly focused on alternative sources.
Đây là sự kiện có nguy cơ ảnh hưởng biết bao người lao động sử dụng xe buýt ở SG cách đây 3 tuần. Cho đến giờ thì nguy cơ này chưa thành sự thật, nhưng nguyên nhân của vấn đề vẫn nằm đó và có thể tái diễn khi có cơ hội.
Nguyên nhân nằm ở chỗ – “PV GAS [Tổng Công ty Khí Việt Nam] hiện là đơn vị duy nhất nắm giữ nguồn khí [khí nén CNG – Compressed Natural Gas]và quyết định việc bán khí cho các đơn vị trên thị trường” (trích).
Độc quyền kinh tế của doanh nghiệp nhà nước có thể gây xáo trộn xã hội như thế đó. Ai cũng biết và chẳng ai làm gì. Thế nên, “Hành chính Hành ngược – Góc khuất giữa ban ngày” đăng vấn đề này.
Nhiều mỹ phẩm được nhập khẩu về Việt Nam là hàng buôn lậu và hàng kém chất lượng. Không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà con gây hại cho sức khỏe người dùng ở mức độ hàng loạt. Cần nhiều hơn sự phối hợp của các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra các mặt hàng này.
Đồng thời, phải phạt thật nặng với người vi phạm để răn đe, làm gương vì đây là hành vi làm hại sức khỏe rất nhiều người dân cùng một lúc. Ngoài ra, người tiêu dùng cần tỉnh táo và sáng suốt khi mua mỹ phẩm để tránh bị “tiền mất, tật mang”.
Vụ án Mailisa không chỉ gây chấn động dư luận vì quy mô tài sản khổng lồ bị thu giữ với 300 lượng vàng, hơn 100 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hàng tỉ đồng tiền mặt, 400.000 USD và 12 siêu xe, mà còn bởi mức độ tinh vi trong tổ chức, vận hành đường dây nhập lậu và hợp thức hóa mỹ phẩm giá rẻ thành những sản phẩm được quảng cáo như “cao cấp quốc tế”. Từ một hệ thống thẩm mỹ viện có tiếng, Mailisa đã xây dựng cả một “đế chế thương mại” dựa trên mỹ phẩm nhập lậu, bao bì hào nhoáng và chiến lược tiếp thị rầm rộ. Đây không chỉ là một vụ án kinh tế đơn thuần, mà là hồi chuông cảnh tỉnh về mặt trái của thị trường chăm sóc sắc đẹp Việt Nam khi lợi nhuận được đặt cao hơn sức khỏe và niềm tin của người tiêu dùng.
Giá vàng trong nước tăng cao và chênh lệch lớn so với thế giới khiến buôn lậu vàng vào VN tăng cao.
Nghiêm trọng hơn, vàng không rõ nguồn gốc chính là công cụ trốn thuế và rửa tiền, gây rủi ro tới hệ thống tài chính và uy tín quốc gia. Cần nhớ, VN đã bị Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) đưa vào Danh sách xám, và từ Danh sách xám tới Danh sách đen chỉ là tích tắc.
Giá vàng lập đỉnh không chỉ làm bùng phát cơn sốt chính thức mà còn khơi thông những dòng chảy ngầm vượt biên, luân chuyển mà không để lại dấu vết pháp lý…
LTS: Không ồn ào như phố vàng giữa thủ đô, không sôi động như những phiên giao dịch online, thị trường vàng còn tồn tại một dòng chảy âm thầm, nơi mỗi thỏi vàng lặng lẽ vượt biên, đi vào nội địa mà không để lại dấu vết pháp lý nào. Khi giá vàng không chỉ tăng bằng biểu đồ mà còn mở đường cho các hoạt động bất hợp pháp len lỏi dưới tấm áo giao dịch thông thường, thì câu hỏi đặt ra không còn là “giá vàng sẽ tăng đến đâu” mà là “pháp luật đang ở đâu trong dòng chảy ấy”.
Loạt bài “Mật đạo vàng lậu” do Diễn đàn Doanh nghiệp thực hiện không chỉ nhằm phản ánh hiện tượng buôn lậu vàng đang trở lại, mà còn để bóc tách những lỗ hổng pháp lý từ biên giới đến giao dịch dân sự, từ thất thu thuế đến rủi ro rửa tiền, đang khiến thị trường tài chính đối mặt với những nguy cơ vô hình nhưng không hề nhỏ. Và trên hết, là để đặt lại câu hỏi: đã đến lúc cần một luật chơi mới cho thị trường kim loại quý?
Những chuyến hàng lặng lẽ
4 kg vàng được Phạm Thị Vân Anh cất giấu trong người để vận chuyển qua biên giới.
•Errors in airport demand forecasts stem from economic uncertainty and optimism.
•Forecasting can be improved by focusing on both macroscopic and microscopic levels.
•Models can predict the probability of passenger contraction.
•Reference class forecasts improve accuracy by incorporating past forecast errors of peers.
Abstract
Errors in forecasting airport passenger demand arise from uncertain economic climates and planners’ optimism, leading airport planners to make misinformed infrastructure investments. We use publicly available data to develop and test methodologies that enable airport planners to (1) predict the probability of a severe contraction in passenger volumes and (2) improve forecast accuracy by systematically incorporating past forecast errors of airport peers thus “grounding” optimistic forecasts. By incorporating past forecast errors from like airports into airport forecasting models, we build a methodology that is grounded in established demand forecasting practices and is able to significantly improve the accuracy of aviation demand forecasting models.
BBWV – Chỉ 63,6% chuyến bay tại Việt Nam cất cánh đúng giờ trong tháng 7.2025, với hơn 9.400 chuyến bị chậm. Đồ thị tuần này phản ánh áp lực ngày càng rõ lên đội bay và năng lực vận hành của toàn ngành hàng không.
Tác giả: Giang Lê – Minh họa: Hoàng Minh 16 tháng 01, 2026
Nếu bạn từng ngồi chờ ở cửa ra máy bay và thấy chữ “on time” chuyển thành “delayed”, có lẽ bạn cũng cảm nhận được một điều: Bay đúng giờ ở Việt Nam đang trở nên khó hơn trước. Đồ thị tuần này cho thấy đó không chỉ là trải nghiệm cá nhân, mà là một xu hướng rõ ràng của toàn thị trường.https://flo.uri.sh/visualisation/27087407/embed
This article presents results from the first statistically significant study of traffic forecasts in transportation infrastructure projects. The sample used is the largest of its kind, covering 210 projects in 14 nations worth US$59 billion. The study shows with very high statistical significance that forecasters generally do a poor job of estimating the demand for transportation infrastructure projects. The result is substantial downside financial and economic risks. Such risks are typically ignored or downplayed by planners and decision makers, to the detriment of social and economic welfare. For nine out of ten rail projects passenger forecasts are overestimated; average overestimation is 106 percent. This results in large benefit shortfalls for rail projects. For half of all road projects the difference between actual and forecasted traffic is more than plus/minus 20 percent. Forecasts have not become more accurate over the 30-year period studied. If techniques and skills for arriving at accurate demand forecasts have improved over time, as often claimed by forecasters, this does not show in the data. The causes of inaccuracy in forecasts are different for rail and road projects, with political causes playing a larger role for rail than for road. The cure is transparency, accountability, and new forecasting methods. The challenge is to change the governance structures for forecasting and project development. The article shows how planners may help achieve this.