Đồng bằng sông Cửu Long có tiềm năng phát triển vận tải thủy nội địa tính kinh tế cao, an toàn, ít ô nhiễm, nhưng những khó khăn thời gian qua đang hạn chế thế mạnh vốn có này. Làm sao phát triển xứng tầm đang là câu hỏi đặt ra đối với các bộ ngành, đặc biệt là các địa phương…
Chưa phát huy được lợi thế
Thời gian qua, mạng giao thông thủy nội địa ở khu vực ĐBSCL được hình thành trên cơ sở các sông tự nhiên thuộc hệ thống sông Đồng Nai, Cửu Long và các kênh rạch ngang. Hiện có hơn 13.000km sử dụng được cho vận tải, trong đó khoảng 7.000km được đưa vào cấp quản lý. Các tuyến chính gồm 4 trục dọc nối Đông-Tây Nam bộ, 3 trục ngang và các tuyến tránh. Toàn vùng có gần 230.000 phương tiện thủy nội địa được đăng ký, chủng loại phong phú… Hàng hóa được vận tải bằng đường thủy vẫn là chủ yếu. Hàng năm, lượng hàng hóa vận chuyển phương tiện thủy nội địa qua khu vực ĐBSCL đạt 51,5 triệu tấn, chiếm 30% cả nước; chủ yếu là lúa gạo, phân bón, vật liệu xây dựng, mía đường…
The Mekong River has provided a means of transportation for thousands of years. Recent efforts have focused on improving the commercial navigability of the water course, led to a large extent by China in the river’s upper reaches, and the Asian Development Bank (ADB) in the lower Mekong. The ADB-backed Greater Mekong Subregion Economic Cooperation Program, the China-Thai FTA and the proposed ASEAN-China FTA are all major factors contributing to efforts aimed at increasing navigability. Modern transportation infrastructure is essential for economic growth, yet incredibly precarious if hastily implemented. Tiếp tục đọc “Commercial Transportation on the Mekong River”→
For hundreds of years, the Mekong River has been a vital passageway for people and goods. Today, the Mekong is still an essential means of transportation for many of the people living in the region and plays an increasingly important role in international trade and tourism. For example in Viet Nam, roughly 73% of cargo tonnage and about 27% of passengers travel by water annually.
Within the Lower Mekong Basin (LMB), the Mekong River and its major tributaries are navigable during the high-water season (about eight months of the year), with the exception of a 14-km section just north of the border between Cambodia and the Lao PDR – the impassable Khone Falls.
The river in the fast lane
North of the Khone Falls, narrow and turbulent sections of the river as well as large annual water level variations present a challenge to the development of trade and transportation. Despite these difficulties, the river provides an important link between China and lower Mekong countries. Port infrastructure is being expanded to accommodate expected growth, with new facilities planned for the Chiang Saen port, located in the “Golden Triangle” where the borders of Lao PDR, Myanmar, Thailand and Viet Nam converge. Tiếp tục đọc “Mekong River Transport”→
Lần đầu tiên lãnh đạo các tỉnh, thành trong khu vực tiểu vùng Tứ giác Long Xuyên tập trung bàn về kế hoạch liên kết vùng để ứng phó với tình hình biến đổi khí hậu, thủy điện làm cạn nguồn nước, khai thác quá mức tài nguyên đất…
Trong 2 ngày 16 và 17-5 tại TP Long Xuyên, UBND tỉnh An Giang phối hợp với Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế (IUCN) đã tổ chức hội thảo “Liên kết tiểu vùng Tứ giác Long Xuyên – thách thức và tầm nhìn”.
Sống chung với hạn, mặn
Theo các chuyên gia nông nghiệp, tiểu vùng Tứ giác Long Xuyên đang trở thành vựa lúa lớn nhất cả nước, có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn các tiểu vùng khác ở ĐBSCL để phát triển thủy sản, chăn nuôi, trồng trọt. Tiếp tục đọc “Tìm cách “cứu” Tứ giác Long Xuyên”→
Greenhouse gas emissions of hydropower in the Mekong River Basin can exceed those of fossil fuel energy sources
Hydropower is commonly considered as a clean energy source to fuel Southeast Asian economic growth. Recent study published in Environmental Research Letters finds that hydropower in the Mekong River Basin, largest river in Southeast Asia, might not always be climate friendly. The median greenhouse gas (GHG) emission of hydropower was estimated to be 26 kg CO2e/MWh over 100-year lifetime, which is within the range of other renewable energy sources (<190 kg CO2e/MWh). The variation between the individual hydropower projects was, however, large: nearly 20% of the hydropower reservoirs had higher emissions than other renewable energy sources and in several cases the emissions equalled those from fossil fuel energy sources (>380 kg CO2e/MWh). The study concludes that hydropower in the Mekong cannot be considered categorically as a clean energy source; instead, the emissions should be evaluated case-by-case together with other social and environmental impacts. Tiếp tục đọc “Greenhouse gas emissions of hydropower in the Mekong River Basin can exceed those of fossil fuel energy sources”→
United Nations Secretary-General António Guterres announced today the appointment of Michael R. Bloomberg of the United States as his Special Envoy for Climate Action.
Mr. Bloomberg will support the Secretary-General’s climate strategy and efforts towards the planned 2019 Climate Summit at United Nations Headquarters. The Summit will mobilize stronger and more ambitious action towards 2020 climate targets. The Special Envoy will leverage efforts in key areas of the Summit to encourage rapid and enhanced implementation of the Paris Agreement on climate change in the context of sustainable development. Tiếp tục đọc “Secretary-General Appoints Michael R. Bloomberg of United States Special Envoy for Climate Action”→
Hiện nay và trong thời gian tới, ĐBSCL phải đương đầu với ít nhất hai thách thức toàn cầu, một thách thức khu vực và một thách thức từ chính sự khai thác đồng bằng. Toàn cầu, đó là biến đổi khí hậu, nước biển dâng, và toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập quốc tế. Các thách thức đó không tác động riêng lẻ mà cùng nhau và liên hoàn tác động, nhân lên hậu quả của các tác hại là thách thức tổng hợp đối với sự phát triển bền vững của đồng bằng.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm ở ngoài cùng của châu thổ sông Mekong giáp với biển, được hình thành từ khoảng 6000 năm nay, từ trầm tích mà sông Mekong tải ra biển cộng với quá trình biển lùi. Nước và trầm tích là hai yếu tố thuộc về bản chất của đồng bằng. Tiếp tục đọc “Đồng bằng Sông Cửu Long: Những thách thức hiện nay và ngày mai”→
A Water Window project honored at COP 23 as a Best Climate Practice.
The Buoyant Foundation Project (BFD), Development of Amphibious Homes for Marginalized and Vulnerable Populations led by architecture professor Dr. Elizabeth English of the University of Waterloo, Canada was honored as a Best Climate Practice. The honor was presented by the Initiative on Climate Change Policy and Governance (ICCG) at the 23rd Conference of Parties (COP) to the United Nations Framework Convention on Climate Change (UNFCC) in Bonn, Germany.
The BFD project was one of 12 projects that received funding from the Global Resilience Partnership Water Window Challenge (Water Window) by Zurich Insurance Group and the Z Zurich Foundation in 2017. Tiếp tục đọc “Houses that Float on Water”→
Manon Besset, Edward J. Anthony, Guillaume Brunier et Philippe Dussouillez
Giới thiệu
Đồng bằng sông Cửu Long (hình 1) được coi là đồng bằng lớn thứ ba trên thế giới với diện tích gần 100.000 km² (Coleman và Huh, 2004). Với 18 triệu dân, ĐBSCL thâm canh nông nghiệp gồm ruộng lúa, cây ăn quả cũng như nuôi tôm và cá, từng loại chiếm 60%, 70% và 60% tổng sản lượng của Việt Nam (Uỷ ban sông Mekong, 2010 ). ĐBSCL được mô tả như vựa lúa của Đông Nam Á, được nối với một con sông với chiều dài 4.750 km và lưu vực thoát nước khoảng 832.000 km² (Milliman và Ren, 1995). Lưu lượng nước trung bình ước tính của sông Mekong khoảng 14.500 m³/s (Uỷ ban Sông Mekong, 2010). Chế độ thuỷ văn hàng năm theo mùa với một mùa lũ (tháng 5 đến tháng 10), trong đó trầm tích của sông được đưa đến đồng bằng và bờ biển. Ước tính tải lượng trầm tích hàng năm của sông Mekong tại Kratie, Campuchia, chỉ ở thượng nguồn đồng bằng (hình 1), dao động từ 50 đến 160 Mt. Gió mùa Ấn Độ cũng tương ứng với sóng năng lượng thấp từ phía tây nam gây suy yếu dòng dọc bờ về phía Đông Bắc. Trong mùa này, lượng bùn cao từ sông Mekong chủ yếu lắng đọng trong khu vực gần bờ biển của các cửa sông phân lưu (Wolanski et al, 1998;.. Unverricht et al, 2013), khác với với mùa khô, lượng bùn mang tới do sóng mạnh bởi gió Đông Bắc Thái Bình Dương (hình 1). Trầm tích vận chuyển dọc theo phía tây nam từ cửa sông bởi những đợt gió tín phong, sức gió và thủy triều. Dải triều giảm từ khoảng 3m vào mùa xuân dọc theo bờ biển Nam Trung Hoa xuống dưới 1m ở Vịnh Thái Lan, cũng như vùng biển được che chắn từ các sóng theo mùa Thái Bình Dương có năng lượng cao hơn.
Vùng ĐBSCL phát triển nhanh để hình thành đường bờ dài 700 km ở Biển Đông từ 5,3 đến 3,5 ngàn năm với tốc độ bồi tụ lên đến 16 m/năm (Tạ et al., 2002). Khi tiếp xúc với sóng biển ngày càng tăng, tỷ lệ này giảm xuống dưới 10 m/năm ở cửa sông. Tuy vậy, tỷ lệ này vẫn ở mức cao lên đến 26 m/năm trong khu vực Cà Mau ở phía tây nam (Ta và cộng sự, 2002). Sự chênh lệch về tỷ lệ này là do hình thái lệch của đồng bằng về phía tây nam (hình 1). Sự khác biệt này cũng phản ánh sự biến đồi kích thước hạt, từ cát ưu thế ở cửa sông, nơi bị chi phối bởi các giồng cát (Tamura et al., 2012), đến bùn ưu thế khu vực phía tây trong quá khứ là rừng ngập mặn.
Sông Cái Lớn và sông Cái Bé là hai con sông lớn nhất ĐBSCL đổ ra biển Tây, nên nước mặn theo đó xâm nhập mạnh vào vùng Bán đảo Cà Mau, nhất là các tháng cuối mùa khô. Ngày 5/4/2017, Bộ NN&PTNT có tờ trình Thủ tướng Chính phủ duyệt chủ trương đầu tư xây cống ngăn mặn sông Cái Lớn và Cái Bé, đến nay, nhiều bộ và địa phương cùng các chuyên gia bày tỏ băn khoăn.
Dự án có tên Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé, nhằm kiểm soát mặn từ biển Tây, tăng lượng nước ngọt từ sông Hậu về vùng U Minh, tây Quản lộ – Phụng Hiệp và Nam Cà Mau. Vùng hưởng lợi, từ sông Hậu phía Đông Bắc tới biển phía Tây, từ kênh Cái Sắn mạn Bắc đến kênh Quản Lộ-Phụng Hiệp mạn Nam. Có 906.758 ha đất nằm trong dự án, của 6 địa phương: thành phố Cần Thơ và các tỉnh Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.
Biểu đồ độ lún và vận tốc đất lún trong 25 năm tại Đồng Bằng Sông Cửu Long. [nguồn: Environ.Res.Lett. 12 (2017) với ghi chú của KS Phạm Phan Long, Viet Ecology Foundation]. Hiện nay, rất nhiều giếng tầng nông và bơm bằng tay đều bị nhiễm mặn nhiễm phèn, nước giếng không còn dùng được, và nay người nông dân phải khoan sâu 400-500m để tìm được nguồn nước ngọt, mặt bằng ĐBSCL đang bị sụt lún nhanh chóng vì các tầng nước ngầm đang bị tận cùng khai thác.
Ngô Thế Vinh (Gửi Nhóm Bạn Cửu Long)
Water, water, every where, Nor any drop to drink.
Samuel Taylor Coleridge [1772-1834]
Thế kỷ 21 của tỵ nạn môi sinh, đã có 2 triệu người
phải rời bỏ quê hương ĐBSCL ra đi tìm kế sinh nhai
Hình ảnh một dòng sông đang chết dần; cũng để hiểu tại sao đã có 2 triệu người phải rời bỏ quê hương ĐBSCL đi tìm kế sinh nhai; từ phải: TS Lê Anh Tuấn, Th.S Nguyễn Hữu Thiện. [photo by Ngô Thế Vinh]
eco-business.com – Experts at the Unlocking capital for sustainability forum observed that the finance sector, hampered by a short-term approach to investing, is lagging on sustainability, and that the financing of coal should be phased out as soon as possible.
Left to right: Eco-Business managing editor Jessica Cheam, Moxie Future founder Jessica Robinson, Standard Chartered Bank executive director, capital solutions, Rahul Sheth, and Georg Kell, chairman, Arabesque, and founding executive director, United Nations Global Compact. Image: Eco-Business
02/20/2018 – Peaking global CO2 emissions as soon as possible is crucial for limiting the risks of sea-level rise, even if global warming is limited to well below 2°C. A study now published in the journal Nature Communications analyzes for the first time the sea-level legacy until 2300 within the constraints of the Paris Agreement. Their central projections indicate global sea-level rise between 0.7m and 1.2m until 2300 with Paris put fully into practice. As emissions in the second half of this century are already outlined by the Paris goals, the variations in greenhouse-gas emissions before 2050 will be the major leverage for future sea levels. The researchers find that each five year delay in peaking global CO2 emissions will likely increase median sea-level rise estimates for 2300 by 20 centimeters.
Every delay in peaking emissions by 5 years between 2020 and 2035 could mean additional 20 cm of sea-level rise (Mengel et al 2018)
1. CÁC VẤN ĐỀ TÀI CHÍNH CHO DỰ ÁN NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO Ở THỊ TRƯỜNG MỚI NỔI
Như đã nêu ở phần trước, các nhà đầu tư luôn đánh giá một loạt các yếu tố thông thường cho tất cả các thị trường. Tuy nhiên, trong bối cảnh thẩm định tính khả thi và giám sát đầu tư điển hình ở các thị trường mới nổi, sẽ có sự nhấn mạnh đặc biệt vào một loạt các rủi ro cần đượcthận trọng giảm thiểu:
• Sự ổn định và trưởng thành của hệ thống chính trị: điều này ảnh hưởng đến khả năng các dự án đạt được kết quả thành công, vì sự bất ổn càng lớn thì lượng vốn mà các nhà đầu tư và các nhà cho vay thương mại tài trợ cho dự án càng nhỏ. Rủi ro chính trị, ví dụ như sự bế tắc của hợp đồng (CF- contract frustration) và tịch thu, quốc hữu hóa, sung công và cách chức (CNED- confiscation, nationalization, expropriation and deprivation), có thể được chuyển giao cho một loạt các công ty bảo hiểm tư nhân và công lập, bao gồm Cơ quan Bảo đảm Bảo hiểm Đa phương (MIGA, một phần của Nhóm Ngân hàng Thế giới), Lloyd’s of London và thị trường bảo hiểm quốc tế. Khả năng hoặc sự sẵn sàng của các nhà cung cấp dịch vụ này trong việc chấp nhận rủi ro và phí bảo hiểm cho rủi ro sẽ được xác định bởi sự ổn định và sự trưởng thành của hệ thống chính trị. Tiếp tục đọc “Thẩm định tính khả thi cho dự án năng lượng tái tạo ở thị trường mới nổi – Trích Hướng dẫn tài chính cho người làm chính sách: Năng lượng tái tạo và hạ tầng xanh (P2)”→
NIIGATA, Japan — Japan’s rice farmers are venturing into the rest of Asia to grow their crops locally. Supported by an increase in the number of Japanese restaurants across the region, the farmers are teaming up with locals to apply their expertise, hoping to ride the strong brand power that Japonica rice enjoys.