Đây là sự kiện có nguy cơ ảnh hưởng biết bao người lao động sử dụng xe buýt ở SG cách đây 3 tuần. Cho đến giờ thì nguy cơ này chưa thành sự thật, nhưng nguyên nhân của vấn đề vẫn nằm đó và có thể tái diễn khi có cơ hội.
Nguyên nhân nằm ở chỗ – “PV GAS [Tổng Công ty Khí Việt Nam] hiện là đơn vị duy nhất nắm giữ nguồn khí [khí nén CNG – Compressed Natural Gas] và quyết định việc bán khí cho các đơn vị trên thị trường” (trích).
Độc quyền kinh tế của doanh nghiệp nhà nước có thể gây xáo trộn xã hội như thế đó. Ai cũng biết và chẳng ai làm gì. Thế nên, “Hành chính Hành ngược – Góc khuất giữa ban ngày” đăng vấn đề này.
PTH
- 27/12/2025 – Diễn biến mới việc hơn 500 xe buýt tại TP HCM có nguy cơ ngưng hoạt động
- 26/12/2025 – Nguy cơ đình trệ nhiều hoạt động vì thiếu khí CNG
- 25/12/2025 – Vụ gần 500 xe buýt TPHCM có thể ngừng hoạt động vì thiếu khí: Doanh nghiệp nói gì?
***
Diễn biến mới việc hơn 500 xe buýt tại TP HCM có nguy cơ ngưng hoạt động
(NLĐO) – PV GAS D vừa gửi văn bản mời Công ty Khí miền Nam họp đàm phán hợp đồng mua bán khí vào 10 giờ ngày 29-12
Trạm nén CNG Hiệp Phước .Ảnh: NGỌC QUÝ
Công ty CP Kinh doanh Khí miền Nam (KMN) vừa gửi báo cáo đến Sở Công Thương TPHCM về tình hình cung cấp CNG cho các doanh nghiệp và hệ thống xe buýt sử dụng nhiên liệu này phục vụ giao thông công cộng.
KMN cho biết đang cung cấp CNG cho các doanh nghiệp sản xuất trong các lĩnh vực thép, kim loại, gạch men, gốm sứ, thủy tinh, thực phẩm và dệt nhuộm… ở khu vực Đông và Tây Nam Bộ, đồng thời cung cấp nhiên liệu cho hệ thống xe buýt công cộng trên địa bàn TP HCM.
Một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm khoảng 20 doanh nghiệp trong hệ sinh thái của Tập đoàn Sojitz (Nhật Bản), Samsung, Seah (Hàn Quốc), Yongjin, Bellinturf, Want Want (Trung Quốc) cũng đang sử dụng CNG do KMN cung cấp.
Toàn bộ khách hàng dùng CNG của KMN đều nằm xa hệ thống đường ống khí, phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nhiên liệu do công ty cung cấp. Trong năm 2024, sản lượng CNG do KMN cung cấp đạt 146,2 triệu Sm³.
Từ năm 2009 đến nay, KMN mua khí thấp áp từ Công ty CP Phân phối Khí thấp áp Dầu khí Việt Nam (PV GAS D) để sản xuất CNG cung cấp cho các khách hàng. Các hợp đồng mua bán khí để sản xuất CNG giữa KMN và PV GAS D sẽ hết hiệu lực sau ngày 31-12-2025. Theo quy định của hợp đồng, việc gia hạn được hai bên thống nhất vào thời điểm tháng 9-2025.
Xe buýt tại TP HCM có nguy cơ ngưng hoạt động do thiếu khí CNG
Mặc dù KMN ký hợp đồng mua bán khí trực tiếp với PV GAS D nhưng nguồn cung cùng giá bán hoàn toàn do Tổng Công ty Khí Việt Nam – CTCP (PV GAS), là công ty mẹ của PV GAS D – quyết định.
Do vậy, trong 3 tháng, từ ngày 26-8 đến 26-11, KMN đã liên tục, chủ động gửi 6 văn bản đề nghị PV GAS, PV GAS D chấp thuận chủ trương gia hạn hợp đồng. Trong đó, KNN luôn nhấn mạnh về sự cần thiết phải được gia hạn sớm các hợp đồng, đồng thời nêu rõ việc gia hạn hợp đồng chậm trễ, không ổn định nguồn khí, ngừng cấp khí sẽ buộc khách hàng của KMN phải dừng sản xuất, kéo theo rất nhiều hệ lụy, rủi ro pháp lý, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, kinh tế – xã hội.
Sau gần 4 tháng đề nghị, KMN vẫn không nhận được bất kỳ thông tin liên quan đến chủ trương gia hạn hợp đồng mua bán khí từ PV GAS/PV GAS D.
Sáng 25-12, PV GAS D gửi email dự thảo sửa đổi bổ sung gia hạn hợp đồng mua bán khí tự nhiên, đề nghị KMN xem xét phản hồi trước ngày 26-12 để hai bên kịp thời triển khai các thủ tục tiếp theo.
Chiều cùng ngày, PV GAS D tiếp tục gửi văn bản về việc mời KMN họp đàm phán hợp đồng mua bán khí vào 10 giờ ngày 29-12.
Ngày 26-12, Sở Công Thương TPHCM cũng đã có giấy mời gửi đến các công ty liên quan là PV GAS, PV GAS D, KMN và Công ty CP CNG Việt Nam để trao đổi, tháo gỡ khó khăn, giải quyết nguồn cung khí CNG, vào chiều 29-12.
***
Nguy cơ đình trệ nhiều hoạt động vì thiếu khí CNG
Thị trường khí thế giới năm nay diễn biến bình thường, giá có xu hướng giảm, vì vậy khó có chuyện thiếu nguồn cung
Chiều 25-12, tại buổi họp báo cung cấp thông tin về các vấn đề kinh tế – xã hội trên địa bàn TP HCM, ông Trần Trung Hiếu, Phó trưởng Phòng Quản lý năng lượng – Sở Công Thương, cho biết sở chưa nhận được báo cáo từ các doanh nghiệp (DN) có trạm nạp CNG về việc dự kiến ngừng cung cấp khí CNG từ ngày 1-1-2026.
Không có lựa chọn thay thế
Theo ông Hiếu, hiện nay, trên địa bàn TP HCM có 3 trạm nạp khí CNG cho phương tiện vận tải công cộng. Trong đó, 2 trạm thuộc sở hữu của Công ty CP Kinh doanh Khí Miền Nam (KMN), 1 trạm thuộc Công ty CP Khí CNG Việt Nam. Các trạm này phục vụ 510 xe buýt sử dụng khí nén CNG hoạt động trên 18 tuyến xe buýt có trợ giá.
Bên cạnh đó, một số DN sử dụng khí CNG phục vụ hoạt động kinh doanh – sản xuất. Nguồn cung cấp khí CNG cho các đơn vị này chủ yếu là từ Công ty CP Phân phối khí thấp áp Dầu khí Việt Nam (PV GAS D).
Để bảo đảm hoạt động vận tải hành khách công cộng cũng như hoạt động sản xuất – kinh doanh của các đơn vị đang sử dụng khí CNG, Sở Xây dựng TP HCM đã có công văn gửi Tổng Công ty Khí Việt Nam (PV GAS), đề nghị hỗ trợ nguồn cung khí CNG cho hoạt động vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trên địa bàn thành phố.
“Sở Công Thương sẽ phối hợp với Sở Xây dựng và các đơn vị liên quan nghiên cứu, kiến nghị Bộ Công Thương có ý kiến chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan bảo đảm duy trì nguồn nhiên liệu cho xe buýt sử dụng khí nén CNG cũng như các cơ sở sản xuất, công nghiệp trong thời gian tới” – ông Hiếu thông tin.
Trước đó, hôm 18-12, phía PV GAS D (công ty con của PV GAS) đã gửi văn bản số 803/KTA-KD đến KMN thông báo ngừng cung cấp khí thiên nhiên để sản xuất khí nén CNG từ ngày 1-1-2026, đồng thời đề nghị KMN “chủ động phương án nhiên liệu thay thế”.
Phía KMN cho biết PV GAS là đơn vị duy nhất được nhà nước giao nhiệm vụ thu gom, vận chuyển và phân phối khí từ các mỏ tại Việt Nam. Do đó, việc PV GAS D đề nghị KMN “tự tìm phương án thay thế” trong vòng 13 ngày là không khả thi, đặt công ty và các khách hàng đang sử dụng CNG vào tình thế không có lựa chọn thay thế về mặt kỹ thuật và thương mại. Hoạt động sản xuất của nhiều nhà máy sẽ bị gián đoạn, chuỗi cung ứng có nguy cơ đứt gãy, trong khi hệ thống gần 500 xe buýt công cộng chạy bằng CNG của TP HCM có thể rơi vào tình trạng tê liệt.
“DN chỉ còn một lựa chọn là mua khí thấp áp với mức giá áp dụng cho các hộ tiêu thụ công nghiệp đang mua trực tiếp từ hệ thống đường ống để sản xuất CNG. Tuy nhiên, khi mua khí theo mức giá này rồi nén thành CNG, KMN phải gánh thêm hàng loạt chi phí như nén khí, vận chuyển, giải nén và phân phối, khiến giá thành đội lên rất cao, không thể bán cho khách hàng theo chính sách giá hiện hành.
Vì vậy, KMN đề nghị các khách hàng xem xét chuyển sang sử dụng nhiên liệu thay thế là LNG, song giá LNG do PV GAS chào bán hiện cũng ở mức cao. Nếu khách hàng không chấp nhận các mức giá mới, KMN buộc phải dừng cung cấp CNG, dù hợp đồng mua bán giữa các bên vẫn còn hiệu lực” – văn bản của KMN nêu rõ.
PV Gas nói gì?
Ngày 25-12, trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông Trịnh Anh Tuấn, Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh quốc gia – Bộ Công Thương, cho biết cơ quan này đang yêu cầu các DN liên quan báo cáo, cung cấp thông tin để xác minh, kiểm tra vụ việc liên quan nguồn cung khí CNG. Tuy nhiên, ủy ban vẫn chưa nhận được phản hồi.
Theo bà Nguyễn Thúy Hiền, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước – Bộ Công Thương, cục cũng đang kiểm tra các thông tin, phản ánh của DN. Bà cho biết thị trường khí thế giới năm nay diễn biến bình thường, giá có xu hướng giảm, vì vậy khó có chuyện thiếu nguồn cung.
Hiện nay, thị trường khí tại Việt Nam phụ thuộc lớn vào nhập khẩu. Với khí thiên nhiên sản xuất CNG, Bộ Công Thương không quản lý cung cầu như xăng dầu mà giá cả và nguồn cung được điều chỉnh theo thỏa thuận giữa các DN. Bà Hiền cho hay các Sở Công Thương địa phương chịu trách nhiệm cấp phép chủ yếu về an toàn. Sau khi nhận đủ báo cáo, cục sẽ đưa ra chỉ đạo chung để bảo đảm nguồn cung ổn định cho thị trường.
Trong khi đó, một số DN đã có công văn gửi Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng quốc gia Việt Nam (PVN) phản ánh tình hình cung cấp khí. Cụ thể, Công ty TNHH Sojitz Việt Nam (thành viên Tập đoàn Sojitz Nhật Bản) đề nghị PVN kịp thời xem xét và cân đối nguồn cung cấp khí với giá cạnh tranh và ổn định cho khách hàng công nghiệp đang sử dụng CNG trong năm 2026 và các năm sau để tránh ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Công ty CP Thép Nam Kim cũng kiến nghị PVN xem xét, cân đối nguồn khí và chính sách giá phù hợp để KMN có thể tiếp tục cung cấp CNG cho khách hàng hiện hữu, trong đó có Nam Kim từ năm 2026 trở đi. Nếu nguồn cung CNG bị gián đoạn, các nhà máy của Thép Nam Kim có nguy cơ phải dừng sản xuất đột ngột, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các đơn hàng trong nước và xuất khẩu, làm đứt gãy chuỗi cung ứng tôn thép, gây tổn thất cho DN, người lao động và đối tác trong chuỗi giá trị.
Trao đổi với phóng viên chiều 25-12, đại diện PV GAS cho biết năm 2026, đơn vị cam kết bảo đảm đủ nguồn khí cho toàn bộ khách hàng hiện hữu. Trường hợp nguồn khí nội địa suy giảm, PV GAS sẵn sàng huy động khí thiên nhiên nhập khẩu nhằm bảo đảm tính liên tục, an toàn và ổn định của chuỗi cung ứng năng lượng.
Tranh chấp thương mại hay độc quyền?
Với góc độ pháp lý, luật sư Trương Thanh Đức – Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) – cho rằng thị trường xăng dầu, điện, khí của Việt Nam lâu nay vẫn bị đánh giá là thiếu tính thị trường đúng nghĩa, còn sự độc quyền của một số “ông lớn”. Việc này dẫn tới sự bất cập về giá cả và cung – cầu.
Đây không chỉ là câu chuyện thị trường mà còn liên quan tới vấn đề an ninh năng lượng quốc gia, bảo đảm vận hành hệ thống giao thông, cũng như bảo đảm môi trường kinh doanh minh bạch. Do vậy, cơ quan chức năng cần có trách nhiệm xem xét vụ việc để đánh giá, có chỉ đạo kịp thời để bảo đảm thị trường vận hành xuyên suốt, tránh gián đoạn. “Kinh doanh khí không thể như bán phở mà có thể dừng đột ngột, ảnh hưởng tới các lĩnh vực khác” – luật sư Đức nhấn mạnh.
Theo ông Đức, Luật Cạnh tranh năm 2018 đã quy định rõ về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền của DN có vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền gây tác động tới thị trường. Với trường hợp trên, cần có báo cáo về bức tranh tổng thể thị trường khí, tỉ lệ chiếm bao nhiêu lĩnh vực này của DN và mối quan hệ kinh doanh, từ đó mới có thể đánh giá được có vi phạm Luật Cạnh tranh hay không.
Trong khi đó, chuyên gia kinh tế, PGS.TS Ngô Trí Long cho rằng pháp luật cạnh tranh không cấm DN lớn hay DN chiếm thị phần cao. Vấn đề cốt lõi là việc DN có sức mạnh thị trường đáng kể có lạm dụng vị thế đó để gây tổn hại cho việc cạnh tranh, cho khách hàng và cho xã hội hay không.
Theo PGS.TS Ngô Trí Long, để xác định hành vi nào đó có vi phạm Luật Cạnh tranh hay không, cơ quan quản lý không dựa vào cảm tính mà phải xem xét 3 vấn đề trọng tâm. Thứ nhất, xác định thị trường liên quan. Trong trường hợp khí CNG, nếu đây là đầu vào không thể thay thế nhanh bằng nguồn khác, mức độ phụ thuộc của thị trường hạ nguồn sẽ rất cao.
Thứ hai, đánh giá sức mạnh thị trường của DN cung ứng. Khi một DN có khả năng quyết định các điều kiện mua – bán trong khi bên còn lại hầu như không có lựa chọn thay thế, luật coi đó là dấu hiệu của vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền. Bản thân vị trí này không bị cấm, nhưng cách sử dụng vị trí đó mới là vấn đề pháp lý cần xem xét.
Thứ ba, đánh giá hành vi cụ thể có gây hạn chế cạnh tranh hay không.
6 lần đề nghị gia hạn hợp đồng
Theo tài liệu do KMN cung cấp, từ ngày 26-8 đến 18-12, DN đã gửi 6 văn bản liên tiếp, đề nghị PV GAS và PV GAS D gia hạn hợp đồng mua bán khí nhưng không nhận được phản hồi cụ thể về khả năng gia hạn.
Đáng chú ý, tháng 11-2025, PVN đã ban hành văn bản chỉ đạo PV GAS “xem xét, giải quyết dứt điểm các vướng mắc để tránh ảnh hưởng đến uy tín của tập đoàn”. Tuy nhiên, theo phản ánh của KMN, đến nay, chỉ đạo này vẫn chưa được triển khai trên thực tế.
Đây không phải lần đầu tiên KMN phản ánh vấn đề này với PV GAS. Năm 2020, HĐQT PV GAS từng ban hành nghị quyết với mức giá khí bán cho KMN cao hơn khoảng 12% so với giá dành cho Công ty CNG Việt Nam. Khi đó, sau khi Cục Cạnh tranh (nay là Ủy ban Cạnh tranh quốc gia) vào cuộc, chính sách giá này đã dừng lại.
***
Vụ gần 500 xe buýt TPHCM có thể ngừng hoạt động vì thiếu khí: Doanh nghiệp nói gì?
Nguyễn Hải – 25/12/2025 14:07 GMT+7
(NLĐO) – PV GAS hiện là đơn vị duy nhất nắm giữ nguồn khí và quyết định việc bán khí cho các đơn vị trên thị trường.
Liên quan đến việc Công ty CP Phân phối Khí Thấp áp Dầu khí Việt Nam (PV GAS D) đã gửi văn bản số 803/KTA-KD đến Công ty CP Kinh doanh Khí miền Nam (KMN) thông báo ngừng cung cấp khí thiên nhiên để sản xuất khí nén CNG kể từ ngày 1-1-2026, đại diện KMN cho biết công ty đang cung cấp CNG cho hàng trăm doanh nghiệp sản xuất trong nhiều lĩnh vực như thép, kim loại, gạch men, gốm sứ, thủy tinh, thực phẩm và dệt nhuộm. Trong đó, chỉ riêng hệ sinh thái của Tập đoàn Sojitz (Nhật Bản) tại Việt Nam đã có khoảng 20 doanh nghiệp đang sử dụng CNG do KMN cung cấp.
Đặc biệt, doanh nghiệp còn cung cấp nhiên liệu CNG cho gần 500 xe buýt công cộng tại TPHCM. Nếu nguồn khí bị cắt, hoạt động sản xuất của nhiều nhà máy sẽ bị gián đoạn, chuỗi cung ứng có nguy cơ đứt gãy, trong khi hệ thống xe buýt công cộng của TPHCM có thể rơi vào tình trạng tê liệt.

Theo số liệu hoạt động, trong năm 2024, KMN đã cung cấp khoảng 146 triệu Sm³ CNG, phục vụ hàng trăm khách hàng tại các khu công nghiệp ở TPHCM, Đồng Nai, Tây Ninh và Cần Thơ. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, doanh nghiệp này gặp bất lợi về điều kiện thương mại khi mua khí so với Công ty CP CNG Việt Nam (đơn vị do Tổng công ty khí Việt Nam – PV GAS nắm quyền chi phối).
Cụ thể, ngày 31-1-2020, Hội đồng quản trị PV GAS từng ban hành Nghị quyết số 11/NQ-KVN với định hướng áp dụng mức giá khí bán cho KMN cao hơn khoảng 12% so với giá khí dành cho Công ty CP CNG Việt Nam.
Thời điểm đó, KMN đã kiến nghị Cục Cạnh tranh (nay là Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia) vào cuộc và sau khi cơ quan này có ý kiến, chính sách giá khí nêu trên đã được dừng lại. Tuy nhiên, theo KMN, sự khác biệt bất lợi về điều kiện thương mại vẫn tồn tại trong nhiều năm.
Trước nguy cơ gián đoạn nguồn cung, từ ngày 26-8 đến 18-12-2025, KMN đã gửi tổng cộng 6 văn bản đề nghị PV GAS và PV GAS D xem xét gia hạn hợp đồng mua bán khí nhằm bảo đảm hoạt động liên tục cho doanh nghiệp và khách hàng. Tuy nhiên, các kiến nghị này không nhận được phản hồi thỏa đáng.

Tháng 11-2025, Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN) đã ban hành văn bản số 10821/CNNL-TMDV, chỉ đạo PV GAS xem xét và giải quyết dứt điểm các vướng mắc liên quan, nhằm tránh ảnh hưởng đến uy tín của tập đoàn. Dù vậy, theo KMN, cho đến nay, việc chỉ đạo này vẫn chưa được triển khai trên thực tế.
Ngày 25-11, PV GAS có văn bản trả lời KMN, cho rằng việc gia hạn hợp đồng là trách nhiệm của KMN và PV GAS D, song không đưa ra giải pháp cụ thể để xử lý vấn đề trong bối cảnh PV GAS là đơn vị duy nhất nắm giữ nguồn khí và quyết định việc bán khí cho các đơn vị trên thị trường.
Cũng trong tháng 11, KMN đã gửi đơn phản ánh, kiến nghị đến Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia và cơ quan này đã làm việc với các bên liên quan, bao gồm KMN và PV GAS D, đồng thời yêu cầu PV GAS cung cấp thông tin phục vụ quá trình xem xét. Tuy nhiên, trong khi cơ quan quản lý cạnh tranh vẫn đang chờ phản hồi thì ngày 18-12-2025, PV GAS D bất ngờ ban hành văn bản 803 thông báo ngừng cung cấp khí thiên nhiên cho KMN, đẩy doanh nghiệp và hàng loạt khách hàng sử dụng CNG vào tình thế cấp bách ngay trước thềm năm mới.
Trao đổi thêm với Báo Người Lao Động, đại diện KMN cho biết nếu không còn được cung cấp khí từ PV GAS D, doanh nghiệp chỉ còn một lựa chọn là mua khí thấp áp với mức giá áp dụng cho các hộ tiêu thụ công nghiệp đang mua trực tiếp từ hệ thống đường ống để sản xuất CNG.
Tuy nhiên, khi mua khí theo mức giá này rồi nén thành CNG, KMN phải gánh thêm hàng loạt chi phí như nén khí, vận chuyển, giải nén và phân phối, khiến giá thành đội lên rất cao, nên không thể bán cho khách hàng theo chính sách giá hiện hành.
Vì vậy, KMN đã đề nghị các khách hàng xem xét chuyển sang sử dụng nhiên liệu thay thế là LNG, song giá LNG do PV GAS chào bán hiện cũng ở mức cao. Trong trường hợp khách hàng không chấp nhận các mức giá mới, KMN buộc phải dừng cung cấp CNG, dù hợp đồng mua bán giữa các bên vẫn còn hiệu lực.
Theo tìm hiểu, cả KMN và PV GAS D đều là doanh nghiệp thành viên trong hệ sinh thái của Tổng Công ty Khí Việt Nam (PV GAS). Trong đó, PV GAS D là công ty con trực tiếp với tỉ lệ sở hữu 50,5% vốn, còn KMN là công ty liên kết với tỉ lệ sở hữu 35,25% vốn điều lệ. Cả 3 doanh nghiệp này đều đang niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán TPHCM (HoSE).

