TT – Họa sĩ thiếu vốn liếng văn hóa và lặp lại chính mình, công chúng chuyên nghiệp thiếu vắng, thị trường tranh giả gây mất lòng tin…
Tác phẩm trình diễn của họa sĩ song sinh Thanh – Hải tại New Space Art Foundation. Hoạt động của trung tâm này trong những năm qua khiến đời sống mỹ thuật ở Huế bớt phần yên ắng – Ảnh: THÁI LỘC
Tác động của công chúng đến sự thay đổi và phát triển của mỹ thuật gần như không có.
Họa sĩ Lương Xuân Đoàn
Đó là lý giải của họa sĩ Lương Xuân Đoàn – ủy viên ban chấp hành Hội Mỹ thuật VN, nguyên phó vụ trưởng Vụ văn hóa văn nghệ Ban Tuyên giáo trung ương – về đời sống mỹ thuật suy trầm, trong đó có thực trạng “đìu hiu” của các cuộc triển lãm (Tuổi Trẻ ngày 29-9). Tiếp tục đọc “Mỹ thuật ngủ đông suốt bốn mùa!”→
TT – Ai đi qua rừng Cư H’Lăm (huyện Cư M’Gar, tỉnh Đắk Lắk) đều mê hoặc trước vẻ đẹp của khu rừng nguyên sinh.
Những thân cây khổng lồ trong rừng nguyên sinh Cư H’Lăm – Ảnh: Tiến Thành
Khung cảnh như tranh vẽ khi bên đường xe cộ qua lại đông đúc là những cây cổ thụ trăm tuổi, những dây leo phủ kín giữ khung cảnh nguyên sơ của rừng tự nhiên. Tiếp tục đọc “Lời nguyền giữ rừng ở Cư H’Lăm”→
Tiếp theo “Dân ca K’ho (Cơ Ho)”, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn “Dân ca Cờ Lao”.
Dân tộc Cờ Lao, còn có các tên gọi khác: Ke Lao, Klau (tiếng Trung Hoa: 仡佬族 hay người Ngật Lão) là một dân tộc ít người. Họ là một trong số 54 dân tộc Việt Nam và 56 dân tộc Trung Hoa được công nhận một cách chính thức.
Tổng số người Cờ Lao tại hai quốc gia này khoảng 438.200-594.000 người (theo các nguồn khác nhau). Dân tộc Cờ Lao chủ yếu sinh sống tại khu vực phía tây tỉnh Quý Châu, Trung Hoa. Một số ít sinh sống tại các tỉnh Quảng Tây,Vân Nam, Tứ Xuyên. Tại Việt Nam, có khoảng 1.500 người sinh sống tại các huyện Đồng Văn và Hoàng Su Phì thuộc tỉnh Hà Giang. Tín ngưỡng chính là đa thần, thờ phụng tổ tiên. Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Cờ Lao”→
A painting scroll describing the landing of a boat bearing Japanese merchants in Hoi An harbour in the 17-18th century. The item was provided by the Kyushu National Museum in Japan. — Photo courtesy the Viet Nam National Museum of History
HA NOI (VNS) — Vietnamese history, dating from prehistoric times to the modern era, is being depicted at an exhibition set to open on September 1 at the Viet Nam National Museum of History.With 300 items on display, including photos, paintings and documents, the exhibition will offer a wide view of the country’s history over the last 500,000 years. Tiếp tục đọc “Exhibition captures glimpse of Vietnamese history”→
Tiếp theo Dân ca Cống, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Dân ca K’Ho (Cơ Ho) của Dân tộc K’Ho (Cơ Ho).
Dân tộc K’Ho, còn có các tên khác như: Cơ Ho, Cờ Ho, Kơ Ho, Srê, Nộp, Cơ Dòn, Chil, Lạt (Lạch), T’ring.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người K’Ho ở Việt Nam có dân số 166.112 người, cư trú tại 46 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người K’Ho cư trú tập trung tại các tỉnh: Lâm Đồng (145.665 người, chiếm 12,3% dân số toàn tỉnh và 87,7% tổng số người K’Ho tại Việt Nam), Bình Thuận (11.233 người), Khánh Hòa (4.778 người), Ninh Thuận (2.860 người), Đồng Nai (792 người), Sài Gòn (247 người). Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca K’Ho (Cơ Ho)”→
Tiếp theo Dân ca Cor, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Cống của Dân tộc Cống hôm nay.
Dân tộc Cống, còn có các tên gọi khác là: Xắm Khống, Mông Nhé, Xá Xeng, là dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến cư trú chủ yếu tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và khu vực ven sông Đà.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Cống ở Việt Nam có 2.029 người, cư trú tại 13 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Cống cư trú tập trung tại các tỉnh: Lai Châu (1.134 người, chiếm 55,9% tổng số người Cống tại Việt Nam), Điện Biên (871 người, chiếm 42,9% tổng số người Cống tại Việt Nam), còn lại 24 người sinh sống ở một số tỉnh, thành khác. Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Cống”→
Phần giới thiệu của mình hôm nay với các bạn là Dân ca Chứt trong đề mục dân ca 54 dân tộc anh em.
Người Chứt, còn gọi là người Rục, người Sách, người A rem, người Mày, người Mã liềng, người Tu vang, người Pa leng, người Xe lang, người Tơ hung, người Cha cú, người Tắc cực, người U mo, người Xá lá vàng, là một dân tộc ít người sinh sống tại Lào và Việt Nam. Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Chứt”→
Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Chrau-Jro (Chơ Ro) tiếp theo Dân ca Churu.
Dân tộc Chơ Ro có tên tự gọi là Chrau – Jro, Chrau có nghĩa là Người hay Nhóm người. Jro có nghĩa là một danh từ riêng chỉ cộng đồng của họ. Họ còn có các tên khác như: Châu ro, Chro, Chrau, Jơ ro, Dơ ro.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Chrau-Jro ở Việt Nam có dân số 26.855 người, cư trú tại 36 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Chơ Ro cư trú tập trung tại các tỉnh: Đồng Nai (15.174 người, chiếm 56,5% tổng số người Chơ Ro tại Việt Nam), Bà Rịa-Vũng Tàu (7.632 người), Bình Thuận (3.375 người), Sài Gòn (163 người), Bình Dương (134 người), Bình Phước (130 người). Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Chrau-Jro (Chơ Ro)”→
Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Churu (Chu Ru).
Dân tộc Churu còn có tên gọi là Chu Ru, Chơ Ru, Choru, Kru, Ru. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Churu ở Việt Nam có dân số 19.314 người, cư trú tại 27 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố (tỉnh Lâm Đồng 18.631 người, tỉnh Ninh Thuận 521 người, Sài Gòn 58 người …).
Dân tộc Churu có một vốn ca dao, tục ngữ phong phú, trong đó nổi bật là những câu ca tụng chế độ mẫu hệ, đề cao vai trò của người phụ nữ trong xã hội cổ truyền. Nhiều truyện cổ phản ánh cuộc đấu tranh bất khuất của người lao động với thiên nhiên và xã hội để giành lấy cuộc sống hạnh phúc. Người Churu còn lưu truyền một số trường ca mà các già làng thường kể bên bếp lửa sàn cho con cháu nghe, suốt đêm này qua đêm khác… Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Churu (Chu Ru)”→
Tiếp theo Dân ca Bình-Trị-Thiên, mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Champa/Chăm Pa hôm nay.
Dân tộc Champa/Chăm Pa vốn quần tụ tại khu vực duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời. Ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên cho tới thế kỷ XVII, người Champa/Chăm Pa đã từng xây dựng nên vương quốc Champa/Chăm Pa với nền vǎn hoá Sa Huỳnh rực rỡ, ảnh hưởng của vǎn hoá Ấn Độ.
Dân tộc này còn có các tên gọi khác là: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Hời… với các nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc. Họ có khoảng chừng 161.729 người (theo kết quả điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê), và tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo). Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Champa/Chăm Pa”→
Tiếp theo Dân ca Brâu, hôm nay mình giới thiệu với các bạn Dân Ca Bru-Vân Kiều.
Người Bru-Vân Kiều (còn gọi là người Bru, người Vân Kiều, người Măng Coong, người Trì hay người Khùa) là một dân tộc thiểu số. Ngôn ngữ của họ là tiếng Bru, một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Cơ Tu của ngữ tộc Môn-Khmer. Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Bru-Vân Kiều”→
Mark Ashwill là nhà giáo dục người Mỹ, tiến sĩ, và cựu giám đốc của Học viện Giáo dục Quốc tế – International Institute for Education (IIE) – , trước khi ông và vợ ông sáng lập Capstone Việt Nam vào năm 2009, một cơ sở tư vấn giáo dục đặt tại Hà Nội. Khi Mark diễn thuyết tại một Diễn đàn Giáo dục cấp cao Việt Nam – Hoa Kỳ tại Hà Nội, ông rất ngạc nhiên khi thấy gần như không ai trong số 150 thính giả biết rằng một chương trình học bổng rất nhiều danh tiếng – Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF) – được cho rằng được bảo trợ bởi Chính phủ Hoa Kỳ – thực ra là chính do Chính phủ Việt Nam gây quỹ bằng một thỏa thuận hoán đổi nợ. Chính phủ Việt Nam đã đồng ý, như một phần của tiến trình bình thường hóa quan hệ 20 năm trước, để trả lại khoản nợ 146 triệu USD trong nông nghiệp và các khoản nợ khác mà Mỹ đã cấp cho bên bại trận – Chính quyền Sài Gòn. Với khoản nợ và khủng hoảng của Hy Lạp gần đây, chi tiết của điều khoản Việt Nam trả nợ cho Mỹ dưới đây do Mark Ashwill đưa ra có thể khiến nhiều người Mỹ cũng như người Việt Nam bất ngờ.
Phần giới thiệu của mình với các bạn tiếp theo Dân ca Bố Y là Dân ca Brâu hôm nay.
Dân tộc Brâu (còn gọi là Dân tộc Brạo) là một dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu tại Campuchia, Lào và một ít tại Việt Nam.
Theo các nguồn khác nhau thì dân số người Brâu tại Campuchia khoảng 14.000 người, tại Lào khoảng 13.000 người tới 24.000+ người. Tại Việt Nam từ năm 1981 trở lại đây thì dân số người Brâu dao động trong khoảng 300 người. Cụ thể như sau:
Tiếp theo “Dân ca Ba Na“, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Bố Y.
Dân tộc Bố Y (tiếng Trung: 布依族, bính âm: Bùyīzú), còn gọi là Chủng Chá, Trọng Gia, Tu Dí, Tu Dìn hay Pu Nà. Ngôn ngữ của dân tộc Bố Y thuộc ngữ chi Tày-Thái. Dân tộc Bố Y có dân số khoảng 2.971.460 người, chủ yếu sống tại Trung Quốc và chỉ khoảng 2.273 người sinh sống tại Việt Nam. Nơi cư trú của họ là các huyện biên giới ở các tỉnh Lào Cai, Hà Giang và tại Trung Quốc ở các tỉnh Quý Châu, Vân Nam, Tứ Xuyên. Mặc dù tại cả Trung Quốc lẫn Việt Nam họ vẫn được hai chính phủ này công nhận như là một nhóm sắc tộc riêng rẽ, nhưng chính họ lại tự coi mình là người Tráng. Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Bố Y”→
Việt Nam chúng ta có một diện tích trải dài trên ngàn cây số dọc theo biển Đông với 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc lại có những âm điệu, lời ca đặc thù riêng biệt. Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn nền dân ca dân nhạc của 54 dân tộc anh em chúng ta. Trước tiên mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Bahnar/Ba Na của Dân tộc Bahnar/Ba Na.
Tộc Bahnar/Ba Na (các tên gọi khác: Ba Na Trên Núi, Ba Na Dưới Núi, Ba Na Đông, Ba Na Tây, Tơ Lộ, Bơ Nâm, Glơ Lâng, Rơ Ngao, Krem, Roh, Con Kde, A la công, Krăng, Bơ Môn, Kpăng Công, Y Lăng) có dân số khoảng 227.716 người. Họ có nhiều tên gọi khác nhau như thế bởi theo nơi cư trú hay phong tục tập quán của mỗi vùng.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, Dân tộc Bahnar/Ba Na cư trú tại 51 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố, chủ yếu tập trung tại các tỉnh:
Gia Lai (150.416 người, chiếm 11,8% dân số toàn tỉnh và 66,1% tổng số người Ba Na tại Việt Nam) Kon Tum (53.997 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và 23,7% tổng số người Ba Na tại Việt Nam) Phú Yên (4.145 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và 23,7% tổng số người Ba Na tại Việt Nam) Bình Định (18.175 người, chiếm 8,0% tổng số người Ba Na tại Việt Nam) Đắk Lắk (301 người) Bình Thuận (133 người)