Truyện Lục Vân Tiên và Truyện Kiều, truyện nào cần cho Việt Nam hơn?

Chào các bạn,

Truyện Kiều chỉ là một tiểu thuyết phong tình (tiểu thuyết tình cảm có nhiều tình tiết vui buồn sướng khổ). Không có gì hơn vậy.

Truyện Kiều, tên tiếng Hán Việt là Đoạn trường tân thanh (Tiếng kêu mới về nỗi lòng đau đứt ruột). Và Nguyễn Du lấy ý từ “Đoạn trường tân thanh” để viết Kim Vân Kiều.

Mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du viết (câu 7 và câu 8): Tiếp tục đọc “Truyện Lục Vân Tiên và Truyện Kiều, truyện nào cần cho Việt Nam hơn?”

Why is Vietnam so lucky to get Chinese culture? Why can’t the Philippines have Chinese and Japanese culture too? Why didn’t China invade the Philippines?

Profile photo for Anh Lam

Anh Lam · Knows Vietnamese3y

It’s not correct to say that Vietnam has Chinese culture. This is downplaying the unique development of Vietnamese culture.

Vietnamese culture is Chinese-like to untrained foreign eyes (like Korean/Japanese) but once you are familiar, you can see the unique styles to Vietnam, for example the curved roofs of Vietnamese traditional architecture.

Tiếp tục đọc “Why is Vietnam so lucky to get Chinese culture? Why can’t the Philippines have Chinese and Japanese culture too? Why didn’t China invade the Philippines?”

Đời sống tăng đoàn ở Nalanda (Ấn Độ) vào thế kỉ 7: tục dùng thìa (muỗng) và đũa – pháp sư Nghĩa Tịnh

Nguyễn Cung Thông 1

Phần này bàn về chương 16 trong cuốn Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện của pháp sư Nghĩa Tịnh. Chương này chỉ có 93 chữ, không kể tựa đề gồm bốn chữ là Thỉ Trợ Hợp Phủ (tạm dịch/NCT: tục dùng thìa và đũa). Tuy rất ngắn nhưng lại có nhiều thông tin sâu sắc về đời sống tăng đoàn Phật giáo, tập tục của Ấn Độ và Trung Hoa vào TK 7.

Các tài liệu như Tây Vực Kí của pháp sư Huyền Trang (khoảng 602-664), Phật Quốc Kí của pháp sư Pháp Hiển (337- 422) và ghi chép của pháp sư Nghĩa Tịnh cho ta biết lịch sử Phật giáo và đời sống tăng đoàn thời cực thịnh so với hiện nay. Đây là ba cao tăng bỏ cả đời đóng góp cho PG, được biết đến nhiều so với các du tăng cầu pháp khác đã từng đến Ấn Độ như Chu Sĩ Hành 朱士行 (203 – 282), Bảo Vân, Tăng Cảnh, Huệ Viễn …

Tiếp tục đọc “Đời sống tăng đoàn ở Nalanda (Ấn Độ) vào thế kỉ 7: tục dùng thìa (muỗng) và đũa – pháp sư Nghĩa Tịnh”

Xuất khẩu cà phê kỷ lục khiến Tây Nguyên cạn nước và người nghèo nghèo thêm

Tội nghiệp Tây Nguyên và anh chị em đồng bào thiểu số. 

Lượng xuất khẩu cà phê Việt Nam đang đứng thứ 2 thế giới, nhưng không có tăm tiếng trên thị trường thế giới vì Robusta chỉ được người ta mua để làm cà phê bột hòa tan. Trong khi đó, nước ngầm bị cạn kiệt, và nông dân nghèo không có đủ nước để sinh hoạt.

Và trong trường kỳ, rất có thể toàn Tây Nguyên không có đủ nước để trồng cà phê, đặc biệt với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

Hi vọng nhà nước thấy cái hại trường kỳ và tìm cách giải quyết vấn đề một cách khoa học và bình đẳng ngay từ bây giờ.

PTH

***

Xuất khẩu cà phê lập kỷ lục mới, hướng tới mốc 8 tỷ USD

VNEconomy – Chu Khôi, 20/10/2025, 10:33

Giữa bối cảnh nguồn cung cà phê toàn cầu khan hiếm và biến động mạnh, cà phê Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế khi xuất khẩu lập kỷ lục mới, đạt 7 tỷ USD chỉ trong 9 tháng và dự báo cả năm 2025 có thể cán mốc 8 tỷ USD. Đây là con số cao chưa từng có trong lịch sử ngành cà phê Việt Nam…

Kim ngạch xuất khẩu cả năm 2025 có thể vượt 8 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu cả năm 2025 có thể vượt 8 tỷ USD.

Tiếp tục đọc “Xuất khẩu cà phê kỷ lục khiến Tây Nguyên cạn nước và người nghèo nghèo thêm”

Ở Việt Nam, người Hoa là bậc thầy kinh doanh

“Dù người Việt sống cạnh người Hoa cả mấy ngàn năm nay, và dù một số người Hoa trở thành người Việt, người Việt vẫn chưa học được cách làm ăn buôn bán và cách sống chung với nhau của người Hoa.” [trích Bí quyết thành công của người Hoa (PTH)].

Mong người Việt chúng ta biết cúi đầu trước thầy.

PTH

  • Bí quyết thành công của người Hoa (PTH)
  • Phía sau sự thành công trong kinh doanh của người Hoa (Báo Dân tộc)

***

Tiếp tục đọc “Ở Việt Nam, người Hoa là bậc thầy kinh doanh”

2025 – Năm thiên tai vượt ngưỡng và giới hạn của hệ thống phòng thủ. Phải thay đổi tư duy quản lý và ứng phó rủi ro thiên tai

vnexpress.net

Chủ tịch Hội thủy lợi Việt Nam cho biết trước đây khi ngành thủy lợi làm quy hoạch cho các lưu vực ở miền Trung, sông nào cũng có dung tích phòng lũ. Song khi thay đổi đầu mối quản lý, với việc xây dựng ồ ạt nhiều dự án thủy điện, các bộ ngành phối hợp không chặt chẽ, nên dung tích phòng lũ ở miền Trung gần như không có hoặc không đáng kể.

Nhật ký lũ trên cột nhà ông Nguyễn Văn Biên (82 tuổi) ở Hội An, Đà Nẵng, năm nay khắc thêm một dấu mốc mới – 2025, vượt tất cả năm lịch sử ông từng ghi dấu trước đó – 1964, 1999, 2007, và 2009.

Trận lũ Giáp Thìn diễn ra 61 năm trước vẫn là nỗi ám ảnh với ông Biên. Nước lũ ngập quá căn nhà cổ một tầng. Chàng thanh niên 20 tuổi cùng cha mẹ vác theo 3 kg gạo, gói vài bộ áo quần, bơi qua trú tạm ở căn nhà hai tầng đối diện. Họ thất thần nhìn dòng nước lũ nhấc bổng những căn nhà tranh, và cuốn trôi không ít phận người xấu số.

“Không có ngôi nhà hai tầng đó, chắc mình cũng giống họ”, ông nhớ lại.

Không ai thống kê số người tử nạn năm đó. Nhưng ông Biên chắc chắn nó gây thiệt hại hơn cả trận “đại hồng thuỷ” năm 1999, khiến 595 người chết và mất tích tại 10 tỉnh, thành, trong đó Quảng Nam (cũ) và Đà Nẵng là 110 người.

Ký ức từ những trận lũ lịch sử trở thành bài học cho nhiều thế hệ sống nơi tâm lũ như ông Biên. Khi tích lũy đủ tiền để sửa nhà năm 2018, ông ngẫm ngập phố cổ chưa năm nào quá 3 m, nên quyết định nâng sàn tầng hai cao hơn mặt đường 4 m, và cách mặt sông Hoài chừng 5 m. Đêm 30/10, nước lũ lên nhanh, ngập đến 2,5 m cột nhà, vượt cả mốc lũ năm 1964. Lúc ấy, ông lo sợ lịch sử lặp lại, phải tính đến phương án xấu nhất sẽ gọi cứu hộ thế nào.

May mắn, nước chưa lên tới tầng hai, nhưng ngập đến ngày thứ 5 mới rút, ít ngày sau lại lên lại. Trong hơn 10 ngày từ 22/10 đến 3/11, người dân Hội An chạy lũ ba lần. Toàn thành phố Đà Nẵng (sau sáp nhập) ghi nhận 15 người chết và 3 mất tích, thấp hơn nhiều con số năm 1999.

Tiếp tục đọc “2025 – Năm thiên tai vượt ngưỡng và giới hạn của hệ thống phòng thủ. Phải thay đổi tư duy quản lý và ứng phó rủi ro thiên tai”

Tiếng Việt từ TK 17: các cách dùng đầu rau, các cơm, ghế cơm, nhà vưng/bếp, lò, vua bếp/táo quân (phần 51)

Nguyễn Cung Thông 1

Phần này bàn về các cách dùng đầu rau, các cơm/thổi cơm, ghế cơm, nhà vưng/bếp, lò, vua bếp/táo quân, câm lốc từ TK 17.

Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ), điều này cho ta dữ kiện để xem lại một số cách đọc chính xác hơn so với các dạng chữ Nôm cùng thời. Ngoài ra, phần này bàn rộng ra hơn về các cách dùng bếp, nằm bếp, truyền thuyết Táo quân cũng như sự biến mất đặc biệt của đầu rau trong xã hội Việt Nam ngày nay..

Tiếp tục đọc “Tiếng Việt từ TK 17: các cách dùng đầu rau, các cơm, ghế cơm, nhà vưng/bếp, lò, vua bếp/táo quân (phần 51)”

“Lẫn lộn (‘ngọng’) n – l qua lăng kính tiếng Việt từ TK 17 và mở rộng” (phần 32C)

      Nguyễn Cung Thông

Phần này bàn về khuynh hướng lẫn lộn (có người gọi là ngọng) n – l trong tiếng Việt từ TK 17. Phần này đánh số là 32C vì tiếp theo hai bài viết phần 32 và phần 32B trước đây.

Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ), điều này cho ta dữ kiện để xem lại một số cách đọc chính xác hơn so với các dạng chữ Nôm cùng thời. Ngoài ra,  phần này sẽ bàn rộng ra để cho thấy lẫn lộn n – l có thể là một hiện tượng vùng miền (areal feature/A), đặc biệt là từ góc độ lịch đại cho thấy đóng góp của khuynh hướng lẫn lộn n – l vào quá trình hình thành tiếng Việt mà ít người biết đến.

Tiếp tục đọc ““Lẫn lộn (‘ngọng’) n – l qua lăng kính tiếng Việt từ TK 17 và mở rộng” (phần 32C)”

Cô bé trên mái nhà sàn

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Truyện ngắn

Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh – tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…

Tiếp tục đọc “Cô bé trên mái nhà sàn”

Đề nghị không mời nghệ sĩ ‘lệch chuẩn văn hóa’ dự sự kiện TP HCM

Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy TP HCM đề nghị cân nhắc không mời nghệ sĩ có ca khúc trái thuần phong mỹ tục, lệch chuẩn văn hóa, dự sự kiện của thành phố.

Công văn ngày 24/10 gửi đến Sở Văn hóa và Thể thao TP HCM, Hội Âm nhạc, các thành viên Hội đồng Lý luận, Phê bình văn học nghệ thuật và các cơ quan báo chí, đề nghị định hướng, chấn chỉnh hoạt động âm nhạc.

Tiếp tục đọc “Đề nghị không mời nghệ sĩ ‘lệch chuẩn văn hóa’ dự sự kiện TP HCM”

Khi rừng cộng đồng chưa thực sự thuộc về cộng đồng

Với anh chị em đồng bào thiểu số ở rừng núi của chúng ta, rừng là cha, là mẹ và là đấng rất mực thiêng liêng. Có lẽ không có ai hiểu rừng và yêu rừng bằng họ. Mấy ngàn năm nay, con cháu của 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi đã duy trì danh tiếng gìn giữ và phát triển rừng rất tốt. 

Nay chúng ta đã có luật để cộng đồng (dân tộc thiểu số) làm chủ rừng, thì hãy để cộng đồng làm chủ rừng thật sự, thay vì “cộng đồng làm chủ, Nhà nước quản lý”, và Nhà nước cho doanh nghiệp phá rừng làm “dự án” mà không hỏi ý kiến của cộng đồng chủ.

Các cộng đồng dân tộc thiểu số đã là chủ rừng mấy ngàn năm nay, vậy chúng ta hãy tôn trọng truyền thống lâu đời đó.

PTH

  • Vi Chring: Khi rừng cộng đồng chưa thực sự thuộc về cộng đồng
  • Làm gì để cộng đồng thực sự thành chủ rừng, được hưởng lợi từ rừng?
  • Nhìn lại mô hình cộng đồng tham gia quản lý rừng:
    Bài 1: Hiệu quả từ sự chung tay
    Bài 2: Nhiều vướng mắc trong giao rừng

***

Vi Chring: Khi rừng cộng đồng chưa thực sự thuộc về cộng đồng

nature.org – 15/10/2020

Vi Chring - khi rừng cộng đồng chưa thực sự thuộc về cộng đồng -  ThienNhien.Net | Con người và Thiên nhiên

Từ năm 2007, cộng đồng thôn Vi Chring (xã Hiếu, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum) được giao quản lý, bảo vệ 808 ha rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Gần 15 năm trôi qua, họ đã bỏ ra không ít công sức miệt mài canh giữ với niềm tin sẽ được hưởng lợi từ rừng. Thế nhưng, bên cạnh một số hỗ trợ tài chính từ các dự án phi lợi nhuận và từ chính phủ, nhân dân thôn Vi Chring vẫn chưa được khai thác bền vững để thực sự hưởng lợi từ rừng.

Trong khi đó, việc thu hồi 9,87 ha rừng cộng đồng Vi Chring để xây dựng đường dây 500 kV mạch 3 đã cho thấy số phận mong manh của các khu rừng cộng đồng. Một mặt, người dân không được tiếp cận với phần gỗ vốn thuộc về họ được khai thác từ hành lang an toàn điện, nhưng mặt khác, một doanh nghiệp lại được giao tận thu gỗ, để rồi ngang nhiên tận thu cả vào phần rừng nằm ngoài phạm vi cho phép.

Tiếp tục đọc “Khi rừng cộng đồng chưa thực sự thuộc về cộng đồng”

Thiếu hụt bác sĩ ở vùng sâu, vùng xa

Không phải vùng sâu vùng xa thiếu chuyên gia chăm sóc sức khỏe. Anh chị em đồng bào thiểu số của chúng ta bao ngàn năm nay vẫn có chuyên gia chăm sóc sức khỏe cho họ, chỉ là người Kinh chúng ta không công nhận trí tuệ của họ mà thôi.

Với người Kinh, Tây y (và Đông y) là đỉnh cao trí tuệ. Thế nên những Êđê y, Dao Đỏ y, Chăm y… đều là thuộc dạng mà “bác sĩ” Kinh ta lắc lắc đầu: “Đây là vấn đề sống chết, không thể bừa phứa được”.

Nhà nước hãy để già làng/ trưởng bản công nhận những người trong thôn/ xóm/ bản làng có khả năng chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho cả cộng đồng đó.

Hãy tôn trọng cách sống của anh chị em đồng bào mình, đồng thời giúp cho nền y học của nước nhà được phong phú hơn.

PTH

***

Đồng Nai thiếu bác sĩ

SGGPO – 06/08/2025 16:25

Ngành Y tế tỉnh Đồng Nai đang đối mặt với tình trạng thiếu nguồn nhân lực y tế, nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa và biên giới. Do đó, địa phương có nhiều chính sách đào tạo, hỗ trợ và thu hút y bác sĩ về cơ sở y tế làm việc, nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và chăm lo sức khỏe người dân.

Tiếp tục đọc “Thiếu hụt bác sĩ ở vùng sâu, vùng xa”

Tại sao Việt Nam lại không phát triển được như Hàn Quốc và Nhật Bản mặc dù có nguồn tài nguyên tương đương với hai nước này? – Why did Vietnam fail to develop like South Korea and Japan despite having similar resources as these two countries?

SOURYU 蒼龍 · 

Kỹ sư Thiết kế Điện tử và Kết cấu (2003–nay)Cập nhật 1 năm trước http://www.quora.com

Câu trả lời này có thể hơi phản cảm.

Là một kỹ sư, tôi đã có dịp tiếp xúc với công nhân Việt Nam trong một nhà máy cách đây 20 năm. Phải nói rằng người Việt Nam, đặc biệt là đàn ông Việt Nam ở miền Nam, có tính cách rất giống với công nhân Ấn Độ. Thiếu tinh thần chuyên nghiệp, không thích tuân thủ kỷ luật, thích nói khoác, hiệu suất lao động thấp (tốt hơn người Ấn Độ), và thích tìm lý do bào chữa cho thất bại của mình. Họ cũng giỏi bịa ra những tai nạn không có thật để lừa đảo công ty tiền bồi thường. Họ thích cờ bạc, và một số người có thói quen uống rượu không tốt.

Các quan chức Việt Nam và Ấn Độ cũng rất giống nhau, tham nhũng hơn nhiều so với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Tuy nhiên, phụ nữ Việt Nam rất chăm chỉ và tốt bụng, và tôi nghĩ rằng đại đa số đàn ông Việt Nam không xứng đáng với họ.

Tiếp tục đọc “Tại sao Việt Nam lại không phát triển được như Hàn Quốc và Nhật Bản mặc dù có nguồn tài nguyên tương đương với hai nước này? – Why did Vietnam fail to develop like South Korea and Japan despite having similar resources as these two countries?”

“Tiếng Việt từ TK 17: một số cách dùng như đạo bụt, giáo bụt … kiếp, nghiệp, kệ, pháp môn, mục liên, tì lô …” (phần 50B)

Nguyễn Cung Thông

Phần này bàn thêm về một số cách dùng Phật giáo từ các tài liệu chữ quốc ngữ vào TK 17 – hay từ thời LM de Rhodes và các giáo sĩ Tây phương sang Á Đông truyền đạo: đạo bụt/tượng bụt, giáo bụt … kiếp, nghiệp, kệ, pháp môn, mục liên, tì lô, mục/mộc mỗi …

Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ), điều này cho ta dữ kiện để xem lại một số cách đọc chính xác hơn so với các dạng chữ Nôm cùng thời, cũng như thông tin về một số sinh hoạt xã hội/tôn giáo từ những nhân chứng lịch sử (mắt thấy tai nghe).

Tiếp tục đọc ““Tiếng Việt từ TK 17: một số cách dùng như đạo bụt, giáo bụt … kiếp, nghiệp, kệ, pháp môn, mục liên, tì lô …” (phần 50B)”

Kỳ thị và xâm phạm truyền thống văn hoá của các tộc người theo mẫu hệ

Tóm lại, ở các tộc người ấy vì nam giới “không có quyền, nên không có trách nhiệm”. Cho nên, những bà vợ của họ “càng có quyền càng khổ”. Lối giải thích này tạo một ấn tượng sai lạc rằng trong các cộng đồng mẫu hệ thì “chị em ta” là nhất, “bọn đàn ông” chẳng có ký lô nào! Tai hại hơn, nó biến những người đàn ông thiếu ý thức trách nhiệm, bê tha rượu chè, làm khổ vợ con thành những người đáng được cảm thông, và biến chế độ mẫu hệ thành kẻ tội đồ!

Trong khi sự thật là dù trong chế độ mẫu hệ hay phụ hệ thì quan hệ, đời sống và hạnh phúc gia đình tốt hay xấu, trước hết là do ở con người. Nếu nói trong chế độ mẫu hệ giới đàn ông vì “không có quyền nên không có trách nhiệm” thì chẳng lẽ dưới chế độ phụ hệ, tất cả đàn ông, với quyền lực trong tay, đều rất có tinh thần trách nhiệm đối với cuộc sống gia đình?

Với những cách hiểu, cách giải thích, cách đánh giá như vậy, sẽ không phải là điều lạ nếu có ai đó trong những người hoạch định, thừa hành pháp luật, chính sách có ác cảm và có cách đối xử sai lầm đối với chế độ mẫu hệ của các tộc người thiểu số. Chẳng thế mà trong Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số, người ta đã đưa tập quán “Người con bị bắt buộc phải mang họ của người mẹ” của chế độ mẫu hệ vào danh mục “Các phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình cần vận động xoá bỏ” (Phụ lục B).

Theo chúng tôi, dù chỉ là “vận động xoá bỏ” chứ không phải là “nghiêm cấm”, quy định đó cũng thể hiện một cái nhìn kỳ thị và xâm phạm truyền thống văn hoá của các tộc người theo mẫu hệ.

(Trích Nam quyền trong chế độ mẫu hệ ở Việt Nam)

  • Nam quyền trong chế độ mẫu hệ ở Việt Nam
  • Danh mục các tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình

Tiếp tục đọc “Kỳ thị và xâm phạm truyền thống văn hoá của các tộc người theo mẫu hệ”