Say “no” với du lịch nghỉ dưỡng giữa rừng thiên nhiên

Nếu bạn nghỉ dưỡng trong rừng, resort mà bạn đang thưởng thức hiện diện tại đó vì hàng trăm hecta rừng phòng hộ đã bị phá đi để xây resort du lịch, bạn chẳng thể nghỉ dưỡng trong resort giữa rừng mà không đau nhức vì thấy tận mắt rừng đã mất để resort ra đời. Hãy nghĩ đễn nỗi đau của Mẹ Đất, Mẹ Rừng. Tẩy chay các khu resort phá Đất Mẹ.

Say “no” với du lịch nghỉ dưỡng giữa rừng thiên nhiên.

PTH

***

Lấy 106,8 ha rừng phòng hộ núi Chứa Chan làm du lịch sinh thái có cáp treo

 nguoidothi –  09:27 | Thứ tư, 20/08/2025

Đồng Nai đang khẩn trương thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất tại khu vực có 106,8 ha rừng phòng hộ chuyển mục đích sử dụng để triển khai dự án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí núi Chứa Chan. Dự án đang nhắm đến lựa chọn Tập đoàn Sun Group làm chủ đầu tư.

Tiếp tục đọc “Say “no” với du lịch nghỉ dưỡng giữa rừng thiên nhiên”

Sun Group và ma trận chiếm lĩnh từ rừng quốc gia đến đất thiêng Bà Triệu

Dự án đã khởi công, một phần rừng bị triệt hạ, muôn thú ra đi… Tuy vậy, không bao giờ là quá muộn để dừng lại và thay đổi cho đúng và tốt hơn. Dù muộn còn hơn không, vấn đề hệ trọng này thiết nghĩ Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước [lúc có chuỗi bài này] cần có ý kiến chỉ đạo dừng lại, làm rõ và phải được công khai ĐTM [Đánh giá Tác động Môi trường], công khai phản biện và đưa ra Quốc hội để xem xét một cách thận trọng, thấu đáo.

Thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Thuật

Sun Group sẽ trả giá cho những tội lỗi của mình.
Nam mô A-di-đà Phật.

PTH

***

Tác động của dự án du lịch cáp treo lên “huyệt đạo thiêng” núi Nưa

  09:19 | Thứ năm, 09/10/2025 

Báo cáo đánh giá tác động môi trường của chủ đầu tư cho biết khu vực lập quy hoạch chi tiết thuộc Khu di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh quốc gia Địa điểm khởi nghĩa Bà Triệu (gồm Núi Nưa, Đền Nưa, Am Tiên). Thế nhưng trong báo cáo không có nội dung đánh giá tác động của dự án đến di tích lịch sử – văn hóa theo luật định.
 

Ngày 26.4.2025, Tập đoàn Sun Group tổ chức lễ động thổ dự án Khu dịch vụ thương mại và cáp treo Am Tiên tại thị trấn Nưa, xã Tân Ninh (huyện Triệu Sơn cũ), tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên, đến ngày 30.5.2025 UBND tỉnh Thanh Hóa mới có quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp nhận nhà đầu tư dự án “Khu dịch vụ du lịch và trục cảnh quan văn hóa thuộc quần thể khu du lịch Am Tiên” là Công ty TNHH Dịch vụ và Du lịch cáp treo Thanh Hóa (thuộc Tập đoàn Sun Group).

Tiếp đó, ngày 18.8.2025, UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án do nhà đầu tư lập. Cả hai quyết định đều do Phó chủ tịch Nguyễn Văn Thi ký.  

Ngày 11.9.2025, ông Thi bị khởi tố, tạm giam với cáo buộc lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Chưa rõ liên quan vụ án gì nhưng nhiều ý kiến đã nhân đó bày tỏ lo ngại việc động thổ dự án du lịch cáp treo Am Tiên đã tác động xấu đến phong thủy núi Nưa – được xem là một trong ba “huyệt đạo thiêng” của nước Việt Nam, khiến cho vùng đất địa linh nhân kiệt Thanh Hóa trở thành điểm nóng tội phạm khi chỉ trong thời gian ngắn từ ngày 1.7 đến ngày 10.9.2025 Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa phê chuẩn khởi tố 971 bị can liên quan đến các loại tội phạm về trật tự xã hội; tội phạm về kinh tế, sở hữu, môi trường; tội phạm về ma túy; tội phạm tham nhũng kinh tế, chức vụ… 

Núi Nưa là vùng huyệt đạo rất thiêng

Núi Nưa là dãy núi giáp giới cả ba huyện (cũ) Triệu Sơn, Nông Cống, Như Thanh thuộc Thanh Hóa. Đây là dãy núi độc lập được cho là bắt nguồn từ dải Trường Sơn, với đỉnh núi Nưa cao 538m so với mực nước biển. Khảo cứu của nhà nghiên cứu lịch sử Phạm Tấn cho biết núi Nưa là tên dân gian, còn tên mà sách xưa nhắc tới là núi Na. Khi chú thích về núi này, giáo sư Hà Văn Tấn ghi: “Núi Na (Na Sơn) tức là núi Nưa ở làng Cổ Định (trước gọi là Cổ Ninh, tục gọi là Kẻ Nưa), huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa”.

Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn đời Tự Đức (1848 – 1883) viết “ở sở Tinh Mễ, xã Quần Ngọc, phía tây huyện Nông Cống có tên là khu Na Sơn (Núi đuổi ma). Tương truyền núi này có rất nhiều ma quỷ, trước đây có một vị sơn tăng đến đây đọc chú, dần dần quỷ biến mất đi cho nên gọi tên như thế”.

Dự án “Khu dịch vụ du lịch và trục cảnh quan văn hóa thuộc quần thể khu du lịch Am Tiên” có khu vực lập quy hoạch chi tiết thuộc Khu di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh quốc gia Địa điểm khởi nghĩa Bà Triệu nhưng lại không có đánh giá tác động của dự án đến di tích lịch sử – văn hóa. Ảnh: Lê Hoàng


Theo sử sách, năm 248, Triệu Thị Trinh (tức Bà Triệu) đã tập hợp nghĩa sĩ, chọn núi Nưa làm căn cứ luyện tập võ nghệ, dấy binh khởi nghĩa, đánh đuổi quân Đông Ngô xâm lược. Ngày nay, dưới chân núi Nưa là khu đền Nưa cổ kính thờ Bà Triệu. Trên đỉnh cao nhất của núi Nưa, nơi sử sách xưa nhắc đến động núi của vị ẩn sĩ thời Trần – Hồ, chính là danh thắng nổi tiếng với giá trị tâm linh sâu sắc mà dân gian quen gọi động Am Tiên (hay đỉnh Am Tiên).

Đây cũng là nơi chứng kiến, ghi nhận rất nhiều truyền thuyết sinh động về ông Tu Nưa (tức ông tu đạo thần tiên trên núi Nưa) và Bà Triệu cùng nghĩa quân trong những ngày đóng căn cứ tại đây. Hầu như các đỉnh cao của hệ thống núi Nưa (dân gian gọi là Ngàn Nưa) đều có dấu chân các đạo sĩ tu tiên với nhiều truyền thuyết linh thiêng như đỉnh Các Sơn, Tượng Sơn, Bể Cạn, núi Sẻ…

Tại đỉnh núi Nưa có mạch nước ngầm chảy ra trong vắt và không bao giờ cạn, đã tạo thành cái giếng tự nhiên rất đặc biệt mà dân gian đặt tên Giếng Tiên, tương truyền là giếng dành riêng cho Bà Triệu tắm. Phía dưới vài trăm mét có hố nước rộng mà dân gian gọi là Ao Hóp, tương truyền là nơi cung cấp nước sinh hoạt cho nghĩa quân Bà Triệu. Trên đỉnh núi Nưa, ngoài động Am Tiên, Giếng Tiên, còn có Bàn Cờ Tiên, Chùa Tiên, Vườn Thuốc Tiên và Vườn Đào Tiên mà sử sách và truyền thuyết đã nhắc đến như một trung tâm của sự tu tiên đắc đạo.

Tương truyền trong dân gian và được ghi chép trong một số tài liệu, Việt Nam có 3 huyệt đạo thiêng: huyệt đạo ở núi Đá Chông (Ba Vì, Hà Nội), huyệt đạo ở núi Bà Đen (Tây Ninh) và huyệt đạo tại Am Tiên (Thanh Hóa). “Theo Đại Nam nhất thống chí, cũng chính ở khu vực Am Tiên trên đỉnh núi Nưa, người xưa và nay thường coi đó là vùng huyệt đạo rất thiêng của Văn hóa Tùng thư”, nhà nghiên cứu Phạm Tấn cho biết. 

Tài liệu thuyết minh quy hoạch bảo tồn, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh quốc gia Địa điểm khởi nghĩa Bà Triệu của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa cho biết Núi Nưa, Đền Nưa, Am Tiên là thắng cảnh gắn liền với cuộc khởi nghĩa Bà Triệu chống quân Ngô. Từ nơi đền thờ đến đỉnh Am Tiên và toàn bộ vùng núi Nưa trên đất Cổ Định – Tân Ninh từ lâu đã trở thành vùng đất thiêng để khách gần xa hành hương, tưởng nhớ người nữ anh hùng tiền liệt của dân tộc hồi thế kỷ III. Ngày 27.3.2009, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công nhận Địa điểm khởi nghĩa Bà Triệu gồm Núi Nưa, Đền Nưa, Am Tiên là di tích lịch sử danh lam thắng cảnh cấp quốc gia. 

Bốn tuyến cáp treo và tượng Phật cao 167,5m trên núi Nưa

Báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án “Khu dịch vụ du lịch và trục cảnh quan văn hoá thuộc quần thể khu du lịch Am Tiên” cho biết, khu vực lập quy hoạch chi tiết thuộc Khu di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh quốc gia Địa điểm khởi nghĩa Bà Triệu (gồm Núi Nưa, Đền Nưa, Am Tiên), với tổng diện tích khoảng 58,62 ha (586.239,2m²), trong đó chuyển đổi 23,62 ha đất rừng phòng hộ. 

Quy mô dự án gồm: Khu dịch vụ du lịch 187.898,1m², tầng cao công trình 3 – 12 tầng, phân bố tập trung tại khu vực chân núi và đỉnh núi. Tính chất là các khu vực tổ chức các loại hình, sản phẩm du lịch: du lịch tâm linh, văn hóa, lịch sử; du lịch nghỉ dưỡng; dịch vụ trải nghiệm. Đất công viên cây xanh phân bố tập trung tại khu vực chân núi và xung quanh khu vực dịch vụ du lịch trên đỉnh núi, trong đó đất cây xanh sử dụng công cộng 78.940,3m² và đất cây xanh chuyên đề 283.982,1m². Tính chất là các khu vực tổ chức công viên chủ đề và vui chơi giải trí; khu vực cảnh quan núi Nưa.

Khu vực chân núi phát triển hệ thống công viên chủ đề làng nghề địa phương, công viên chủ đề biểu diễn thực cảnh khởi nghĩa Bà Triệu, công viên nước, phim trường, khu vui chơi trẻ em… Khu vực đỉnh núi bố trí các hoạt động trải nghiệm, khám phá thiên nhiên, các trò chơi, đi bộ, leo núi…

Khu vực huyệt đạo trên đỉnh Am Tiên tại núi Nưa được lưu truyền là rất thiêng. Trong ảnh: Dòng người thiền hành quanh huyệt đạo để cầu nguyện theo tập tục. Ảnh: Lê Dương


Tại lễ động thổ dự án Khu dịch vụ thương mại và cáp treo Am Tiên, Tập đoàn Sun Group thông tin dự án có tổng diện tích gần 400 ha, tổng mức đầu tư trên 35.000 tỷ đồng, gồm ba giai đoạn triển khai. Giai đoạn 1 là khu dịch vụ thương mại và cáp treo quy mô 31,74 ha, tổng mức đầu tư 2.969 tỷ đồng. Sẽ xây dựng 2/4 tuyến trong hệ thống cáp treo một dây, tạo tuyến giao thông trục xương sống kết nối toàn bộ các hợp phần quan trọng của dự án từ chân núi lên đến khu vực chân tượng Phật. Tuyến đầu tiên dài 1,2 km, tuyến thứ hai dài 1,5 km.

Giai đoạn 2 triển khai khu dịch vụ du lịch và trục cảnh quan văn hóa quy mô 58,62 ha, tổng mức đầu tư 9.634 tỷ đồng. Đây là trung tâm của quần thể, mang tới không gian hành hương chiêm bái, thiền định với điểm nhấn là tôn tượng Phật Đại Nhật Như Lai bằng đồng mạ bạc cao nhất thế giới (167,5m bao gồm khối đế), gần đó là tháp cầu nguyện cao 35m.  

Giai đoạn 3 hình thành khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng quy mô 295,64 ha, tổng mức đầu tư 22.429 tỷ đồng, nổi bật với “Làng huyền tích” tái hiện hình tượng Bà Triệu qua điêu khắc, biểu tượng voi trắng, chiêng đồng, trống trận… Ngoài ba hợp phần chính, dự án còn tích hợp các không gian lễ hội, sân khấu nghệ thuật có mái che như Vạc Theatre, cầu ánh sáng Chim Lạc, cổng đồng hồ mặt trời tích hợp trình chiếu tương tác… Dự kiến tuyến cáp treo sẽ đưa vào vận hành từ năm 2027, các hạng mục còn lại tiếp tục triển khai song song, hướng tới hoàn thành đồng loạt vào năm 2030.

Ngay sau khi Tập đoàn Sun Group công bố thông tin dự án, nhiều chuyên gia văn hóa, nghiên cứu Phật giáo, phong thủy, kiến trúc sư, nhà báo… đã bày tỏ lo ngại quy mô đồ sộ của dự án có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến long mạch núi Nưa, xâm phạm huyệt đạo thiêng trên đỉnh Am Tiên và làm mờ các giá trị lịch sử, di tích đã ngàn năm gắn với địa điểm cuộc khởi nghĩa Bà Triệu. Nhiều ý kiến đề nghị cẩn trọng xem xét lại dự án nhằm bảo vệ tính nguyên gốc và đặc thù văn hóa tâm linh của địa danh núi Nưa.

Dự án “có thể ảnh hưởng đến di tích lịch sử”

Tại Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp nhận nhà đầu tư, UBND tỉnh Thanh Hóa yêu cầu nhà đầu tư có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nội dung về môi trường trong báo cáo đánh giá tác động môi trường, tuyệt đối không để tác động xấu đến khu vực bảo vệ di tích.

Điều 32 Luật Bảo vệ môi trường quy định nội dung của báo cáo đánh giá tác động môi trường bao gồm “Nhận dạng, đánh giá, dự báo các tác động môi trường chính, chất thải phát sinh theo các giai đoạn của dự án đầu tư đến môi trường; quy mô, tính chất của chất thải; tác động đến đa dạng sinh học, di sản thiên nhiên, di tích lịch sử – văn hóa và yếu tố nhạy cảm khác; tác động do giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư (nếu có); nhận dạng, đánh giá sự cố môi trường có thể xảy ra của dự án đầu tư”.

Thế nhưng trong suốt 220 trang của báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án “Khu dịch vụ du lịch và trục cảnh quan văn hóa thuộc quần thể khu du lịch Am Tiên” đã đưa ra tham vấn cộng đồng không có nội dung nào đánh giá tác động của dự án đến di tích lịch sử – văn hóa và yếu tố nhạy cảm khác, trong khi khu vực lập quy hoạch chi tiết được báo cáo xác định thuộc Khu di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh quốc gia Địa điểm khởi nghĩa Bà Triệu (gồm Núi Nưa, Đền Nưa, Am Tiên).

Phối cảnh dự án Khu dịch vụ thương mại và cáp treo Am Tiên trên núi Nưa với điểm nhấn là tôn tượng Phật Đại Nhật Như Lai cao nhất thế giới (167,5m bao gồm khối đế). Ảnh: Sun Group


Theo nguồn tin của chúng tôi, tại văn bản ngày 24.4.2025, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa cho biết vị trí, địa điểm thực hiện dự án “Khu dịch vụ du lịch và trục cảnh quan văn hóa thuộc quần thể du lịch Am Tiên” không nằm trong khu vực bảo vệ I của Khu di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh Địa điểm khởi nghĩa Bà Triệu (gồm Núi Nưa, Đền Nưa, Am Tiên). Văn bản không cho biết dự án có thuộc khu vực bảo vệ II không – là khu vực được phép xây dựng nhưng phải có sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đối với di tích cấp quốc gia. 

Trong diễn biến liên quan, tại văn bản ngày 12.5.2025 trả lời tham vấn dự án “Khu dịch vụ du lịch và trục cảnh quan văn hóa thuộc quần thể du lịch Am Tiên”, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thanh Hóa cho biết dự án có quy mô sử dụng đất lớn, trong đó có 23,62 ha (236.208,1m2) đất rừng phòng hộ, thực hiện dịch vụ du lịch văn hoá, tâm linh kết hợp với du lịch sinh thái, nhân văn, đáp ứng nhu cầu cao của du khách trong và ngoài nước đến chiêm bái, tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí… “Như vậy, việc thực hiện dự án (thi công xây dựng và hoạt động tham quan đông người) có tác động đến hệ sinh thái đất rừng phòng hộ, có thể ảnh hưởng đến di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh quốc gia Địa điểm khởi nghĩa Bà Triệu, phát sinh các sự cố rủi ro môi trường”, văn bản nhận định.

Chuyển mục đích sử dụng 44,3 ha rừng 

Ngày 14.8.2025, UBND tỉnh Thanh Hóa đã có quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác để thực hiện dự án Khu dịch vụ du lịch và trục cảnh quan văn hóa thuộc quần thể khu du lịch Am Tiên tại thị trấn Nưa, huyện Triệu Sơn (nay là xã Tân Ninh, tỉnh Thanh Hóa). 

Theo đó, tổng diện tích rừng chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác là 44,3 ha. Trong đó rừng tự nhiên 14,06 ha (rừng phòng hộ) và rừng trồng 30,24 ha (8,33 ha là rừng phòng hộ và 21,91 ha là rừng sản xuất).

Nguyễn Minh – Hoài Nam 

***

Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo (7 bài)

***

Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo

23/09/2019 – 07:00

PNO – Khi được giao nhiệm vụ đi tìm hiểu thông tin về dự án của Tập đoàn Sun Group tại rừng quốc gia Tam Đảo – Tam Đảo II, có giá trị 25.000 tỷ đồng, chúng tôi đã lạc vào ‘rừng thông tin’ chính thống và không chính thống.

Xem clip: Clip sư thầy gạ gẫm phóng viên Báo Phụ Nữ TP.HCM tại link gốc của bài

Dieu tra doc quyen: Sun Group, Dia Nguc Tu va ma tran chiem linh rung quoc gia Tam Dao
Ông Toàn dẫn phóng viên vào thất định làm trò đồi bại

Lời tòa soạnTừ Vườn Quốc gia Tam Đảo đến núi Bà Nà, núi rừng tan nát, chim muông cây cỏ bị thiêu rụi bởi mặt trời, nhưng mặt trời không phải từ trên cao, mà từ Sun Group (Tập đoàn Mặt trời).

Họ phá núi, đốn rừng, mở đường để dựng bê tông, xây khu vui chơi, đặt trạm kiểm soát, thu tiền. Sun Group xứng đáng được gọi là “trời”, bởi được che chắn từ hạ giới có tên là im lặng của chính quyền từ trung ương đến địa phương.

Và vẫn “bổn cũ soạn lại”, một mớ hư hư thực thực: trấn yểm long mạch, khởi phát tâm linh… đẻ ra từ liên kết giữa thầy chùa biến thái với doanh nghiệp hòng lùa người ta vào ma trận với đích duy nhất: kiếm tiền…

Đã từ lâu những tiếng nói phản biện, kêu cứu, uất ức về những dự án tàn phá tự nhiên của Sun Group vang lên, nhưng tất cả đều như một trò đùa. Không chặn bàn tay lông lá này lại thì long mạch đúng nghĩa sẽ bị chặt yểm, tà khí sẽ lộng hành, lòng người sẽ nát tan, non nước sẽ tả tơi.

Công bố loạt điều tra độc quyền về sự việc coi trời bằng vung của Tập đoàn Mặt trời, ngoài những con số đớn đau, những tâm sự nát lòng của giới nghiên cứu, chúng tôi cũng có lời xin lỗi bạn đọc về một số chi tiết hơi phản cảm trong bài, nhưng không còn cách nào khác, bởi sự thật chỉ có một thể tồn tại duy nhất. Tiếp tục đọc “Sun Group và ma trận chiếm lĩnh từ rừng quốc gia đến đất thiêng Bà Triệu”

How is China’s demand for durian changing Southeast Asia?

Al Jazeera English – 15-11-2025

It’s been called the world’s stinkiest fruit. But it’s deeply beloved by many.

Durian is a pungent, prickly fruit from Southeast Asia that has fascinated foreigners for centuries, and China is no exception.

China buys most of the world’s durian exports, a surge spurred over the past decade by social media and growing trade ties with durian-producing countries.

Both locals and Chinese are seeking to expand the booming durian industry across Southeast Asia.

But the prospect of high profits has also ignited tensions, resulting in land disputes and environmental concerns.

101 East investigates China’s durian obsession.

Cô bé trên mái nhà sàn

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Truyện ngắn

Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh – tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…

Tiếp tục đọc “Cô bé trên mái nhà sàn”

Bất cập trong quản lý khiến rừng phòng hộ ven biển liên tiếp bị xâm hại (3 bài)

Rừng phòng hộ ven biển ở một số tỉnh miền Trung đang bị chặt phá trái phép. Các vụ việc diễn ra ở Huế, Quảng Trị và Hà Tĩnh.

Hằng năm, những tháng 9, tháng 10 này là mùa mưa bão ở miền Trung. Rừng phòng hộ ven biển giúp chống bão bằng cách chắn gió, làm giảm cường độ gió bão thổi vào bờ, và giảm thiểu tác động của sóng biển, từ đó hạn chế thiệt hại cho nhà cửa, công trình, và đời sống của người dân ven biển. Ngoài ra, rừng còn giúp ngăn chặn xói lở bờ biển, bảo vệ đất liền khỏi sự xâm nhập mặn và cố định bãi bồi.

Tuy nhiên, vì “lỗ hổng” quản lý, rừng phòng hộ ven biển bị chặt phá.

Nguyễn Bảo Ngọc

  • VnEconomy – Bất cập trong quản lý khiến rừng phòng hộ ven biển liên tiếp bị xâm hại
  • Tiền Phong – Chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra vụ chặt hạ rừng phòng hộ ven biển tại Huế
  • Tiền Phong – Rừng tràm phòng hộ ven biển Quảng Trị bị chặt phá hàng loạt

Bất cập trong quản lý khiến rừng phòng hộ ven biển liên tiếp bị xâm hại

VE – Nguyễn Thuấn – 17/07/2025, 06:00

Hơn 3 ha rừng thuộc Dự án 661 tại phường Phong Quảng, thành phố Huế và hàng trăm cây phi lao ở xã Thạch Hải, thành phố Hà Tĩnh vừa bị khai thác trái phép. Hai vụ việc liên tiếp cho thấy nhiều bất cập trong công tác quản lý rừng phòng hộ ven biển…

Tiếp tục đọc “Bất cập trong quản lý khiến rừng phòng hộ ven biển liên tiếp bị xâm hại (3 bài)”

Nghệ An: Lũ ồ ạt đổ về, gần mức 5.000 năm xảy ra 1 lần. Phải chăng vì rừng nguyên sinh đã bị đốn quá nhiều?

*Một tuần sau lũ quét xảy ra ở Nghệ An, các địa phương khác tiếp tục bị ảnh hưởng nặng nề bởi lũ quét, và đều xảy ra tại các tỉnh có tỷ lệ rừng tự nhiên bị chặt phá trên diện rộng*

Khánh Hoan,Thanh Niên 23/07/2025 07:38 GMT+7

Nghệ An: Lũ ồ ạt đổ về, gần mức 5.000 năm xảy ra 1 lần.

Lũ đổ về quá quá lớn khiến nhiều xã miền núi ở Nghệ An ngập sâu trong nước, người dân tất tả chạy lũ trong đêm. Lưu lượng nước về hồ thủy điện Bản Vẽ gần mức 5.000 năm xảy ra 1 lần.

Đêm 22.7, UBND tỉnh Nghệ An phát thông báo khẩn cho biết lúc 21 giờ cùng ngày, lưu lượng nước thượng lưu về hồ thủy điện Bản Vẽ đạt 9.543 m3/giây, gần đạt lưu lượng đỉnh lũ kiểm tra là 10.500 m3/giây (tần suất 0.02%, tức là 5.000 năm xảy ra 1 lần).

Tiếp tục đọc “Nghệ An: Lũ ồ ạt đổ về, gần mức 5.000 năm xảy ra 1 lần. Phải chăng vì rừng nguyên sinh đã bị đốn quá nhiều?”

Rừng biển ngã xuống – tiền chảy về tài khoản lãnh đạo?

VTC News | Khi một cánh rừng ngã xuống, người ta thường nghĩ đến thiên tai. Nhưng ở Phong Quảng, rừng đã ngã – vì con người.

Một vụ bán rừng trước ngày hợp nhất, với cái giá chỉ bằng vài cây vàng – lại được thống nhất bởi chính quyền xã.
Chính quyền xã, cán bộ xã là người thực hiện nhiệm vụ thi hành chính sách lại trở thành lâm tặc, chặt phá rừng trái phép đem đi bán.

Người mua không phải người địa phương. Người chặt rừng cũng không phải dân trong vùng. Nhưng người gật đầu đồng ý – lại chính là những người từng tuyên thệ “phục vụ nhân dân”.

Rừng phòng hộ có vai trò như thế nào trong hệ sinh thái?


Rừng phòng hộ là loại rừng được sử dụng chủ yếu bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường, hạn chế xâm nhập mặn, chắn cát, chống nạn cát bay, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.


Mỗi công dân đều phải có trách nhiệm trước pháp luật về bảo vệ rừng, trồng rừng và giữ gìn lá phổi xanh của đất nước, thế mà nay lại bị chặt phá bởi lãnh đạo địa phương, vẫn thường xuyên mời nhân dân lên xã nghe tuyên truyền về bảo vệ rừng, trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc.


Hôm nay, chúng ta sẽ đi sâu vào vụ việc đang khiến nhiều người dân ở Thừa Thiên Huế không khỏi bức xúc:
Vì sao rừng phòng hộ – tài sản công – lại bị bán chỉ 85 triệu đồng?
Ai đứng sau những chữ ký “trên giấy” nhưng lại gây hệ lụy thật ngoài đời?

Hậu họa phá rừng tự nhiên: Lũ ngập tràn, hạn khô khốc

thanhnien.vn Trang Thy 06/11/2024 05:28 GMT+7

Rừng tự nhiên ở xã Phổ Cường (TX.Đức Phổ, Quảng Ngãi) bị chặt phá để trồng keo và bạch đàn. Những chu kỳ từ 4 – 5 năm với việc phát dọn – đốt trụi – trồng mới – khai thác cứ thế tiếp diễn khiến rừng bị ‘tổn thương’ nghiêm trọng.

Nước lũ vào nhà

Bão số 6 (Trà Mi) đã tan nhưng người dân Phổ Cường vẫn còn lo lắng bởi chưa hết mùa mưa. Họ lo mưa lớn nước lũ tràn vào nhà gây nhiều thiệt hại. Trong tâm trí của họ vẫn còn ám ảnh đêm mưa vào tiết cuối thu 4 năm trước. Đêm đó, mưa như trút nước. Nửa đêm, nước tràn vào nhà khiến chị Nguyễn Thị Tươi và người thân phải kê cao đồ đạc bởi nền nhà bị ngập sâu hơn 20 cm.

“Mấy đợt trước, nước chỉ ngập ngoài sân rồi vô nhà bếp. Đêm đó ngập cả nhà trên lẫn nhà dưới luôn. Nước ngập là do mưa lớn, rừng phía sau nhà không còn giữ nước như xưa và cả việc làm đường nữa. Tuyến đường trước nhà (đường liên xã từ thôn Mỹ Trang, xã Phổ Cường đi thôn Vĩnh An, xã Phổ Khánh, TX.Đức Phổ) như đê ngăn nước nên rất nhiều nhà bị ngập”, chị Tươi cho biết.

Hậu họa phá rừng tự nhiên: Lũ ngập tràn, hạn khô khốc- Ảnh 1.
Không có sông suối nhưng nhà của người dân ở thôn Mỹ Trang vẫn bị ngập

Tiếp tục đọc “Hậu họa phá rừng tự nhiên: Lũ ngập tràn, hạn khô khốc”

Phá rừng ở Đắk Nông tăng cao đầu năm 2025

baolamdong.vn Lê Phước • 17/03/2025 09:51

Từ đầu năm 2025 tới nay, tình trạng phá rừng ở Đắk Nông diễn biến phức tạp với số vụ tăng cao ở nhiều đơn vị, địa phương.

Theo UBND tỉnh Đắk Nông, từ đầu năm tới nay, tình trạng phá rừng tại địa bàn một số huyện có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp.

Tại huyện Đắk Glong, trong 2 tháng đầu năm đã xảy ra 23 vụ phá rừng làm thiệt hại hơn 4,1ha. Diện tích rừng bị thiệt hại chiếm gần 49% toàn tỉnh và tăng 31% so với cùng kỳ năm 2024.

Địa bàn huyện Đắk Song xảy ra 12 vụ phá rừng làm thiệt hại hơn 2,1ha trong thời gian đầu năm. Diện tích thiệt hại chiếm hơn 25% và tăng hơn 82% so với cùng kỳ năm 2024.

Tình trạng phá rừng diễn biến rất phức tạp và tăng cao tại lâm phần quản lý của các công ty lâm nghiệp. Phá rừng đồng loạt tăng tại lâm phần của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Sơn (tăng gần 75% so với cùng kỳ), Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa (tăng gần 199% so với cùng kỳ)…

Tiếp tục đọc “Phá rừng ở Đắk Nông tăng cao đầu năm 2025”

Báo động diện tích rừng bị thiệt hại tăng đột biến

doanhnghiepkinhtexanh.net 08/03/2025 08:53:24

Trong hai tháng đầu năm 2025, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 64% so với cùng kỳ năm 2024, với tổng diện tích 145,4 ha. Ngoài thiệt hại do cháy thì tình trạng chặt phá rừng cũng gia tăng mạnh, với mức tăng lên đến 43% so với cùng kỳ năm trước.

Báo cáo kinh tế – xã hội tháng 2 và 2 tháng đầu năm 2025 của Cục thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng 2/2025 là 73,1 ha, tăng 34,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Diện tích rừng bị cháy là 17,1 ha, gấp 39,7 lần tập trung ở Cao Bằng 10,0 ha, Bắc Kạn 3,8 ha, Lai Châu 2,0 ha; diện tích rừng bị chặt, phá là 56,0 ha, tăng 4,0%. 

Diện tích rừng bị thiệt hại tăng mạnh.jpg
Diện tích rừng bị thiệt hại tăng mạnh (Ảnh minh hoạ).

Tính chung hai tháng đầu năm 2025, diện tích rừng bị thiệt hại là 145,4 ha, tăng 64,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 19,4 ha, gấp 27 lần; diện tích rừng bị chặt, phá là 126,0 ha, tăng 43,3%. 

Tiếp tục đọc “Báo động diện tích rừng bị thiệt hại tăng đột biến”

Lâm Đồng dự kiến lấy 32.000 hecta rừng làm dự án: Nguy cơ tác động tới hệ sinh thái ?

Tia sáng – 12-4-2024 – Lê Quỳnh

Lâm Đồng đang lên kế hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng hơn 32.000 hectares đất rừng, trong đó có 70% diện tích là rừng tự nhiên để xây dựng các dự án, công trình phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng cho giai đoạn 2021 – 2030. Giới chuyên môn lo ngại đánh đổi này sẽ gây ảnh hưởng lớn tới hệ sinh thái, và cho rằng tỉnh cần cân nhắc giữa mục tiêu phát triển kinh tế với chuyển đổi đất rừng trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khó lường.

Khu vực đất lâm nghiệp ở khu vực rừng phòng hộ Tà Nung, thành phố Đà Lạt mà ông Trần Văn Ry và một số hộ dân khác đang sản xuất nông nghiệp. Ảnh: Nam Phong.

Tiếp tục đọc “Lâm Đồng dự kiến lấy 32.000 hecta rừng làm dự án: Nguy cơ tác động tới hệ sinh thái ?”

Lâm Đồng hết quỹ đất trồng rừng thay thế

LÊ QUỲNH – 10/04/2024 09:56 GMT+7

TTCTGiai đoạn 2021-2030, tỉnh Lâm Đồng dự kiến chuyển mục đích 32.115ha đất rừng thành các loại đất khác, cần trồng hơn 77.000ha rừng thay thế. Nhưng tỉnh này hiện không còn đất để trồng rừng.

Khu vực trước kia từng là một dự án khai thác vàng tại xã Tà Năng, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng. Ảnh: NAM PHONG

Anh Yatha (người Churu ở xã Tà Năng, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng) chỉ ra phía những ngọn đồi kể rằng thay đổi rõ nhất theo thời gian ở xã Tà Năng là những quả đồi bị đào khoét nham nhở vì nhiều mục đích khác nhau, bao gồm cả việc đào bới để khai thác khoáng sản. Có những quả đồi bị khoét hết một nửa để khai thác quặng vàng, gây ô nhiễm và hủy hoại con suối vốn là nguồn nước duy nhất dùng để tưới cho nương rẫy của làng anh.

Yatha từng là một thợ săn, hiện tham gia bảo tồn thú cho một dự án phi chính phủ, đồng thời làm người hướng dẫn cho những hoạt động trekking có chọn lọc “để bảo vệ hệ sinh thái, bảo vệ rừng quê nhà mình”.

Tiếp tục đọc “Lâm Đồng hết quỹ đất trồng rừng thay thế”

Đất và người vùng miền núi phía Bắc: Dựng lại trên những gì?

NGUYỄN THU QUỲNH – 01/10/2024 15:54 GMT+7

TTCTSau khi những cơn lũ và sạt lở đất quét qua làng, rồi đây các cộng đồng người dân tộc thiểu số sẽ đứng lên bằng gì?

Xã Hồ Bốn Mù Cang Chải sau trận lũ tháng 8-2023. Ảnh: Nguyễn Việt Cường

Trong căn nhà tuềnh toàng ghép bằng những tấm ván mới xẻ, bào sơ qua, thứ tài sản duy nhất là mấy cái nồi và mấy cái bát, em bé 1 tuổi hai má đỏ au tóc vàng hoe nằm say ngủ. Em bé người Mông say ngủ ở bản tái định cư Hồng Nhì Pá, xã Lao Chải được cha mẹ cõng chạy thoát cơn lũ quét kinh hoàng cuốn qua cả ba xã Lao Chải, Khao Mang, Hồ Bốn của huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) vào ngày 5-8-2023.

Tổng cộng 700 căn nhà bị ảnh hưởng, hỏng 200km đường, ba xã cô lập hoàn toàn – không điện, không nước, không sóng điện thoại. Điều cứu được những bản làng dọc theo bờ suối chạy dọc ba xã hôm ấy chỉ là may mắn: cơn lũ và sạt lở bắt đầu khi trời vừa chập tối, đủ để người dân nhìn thấy dòng nước bùn lũ đen sì đổ về. 

Nhưng cũng trong cơn mưa lũ kinh hoàng, hai em bé ở Khao Mang không có được may mắn ấy, đất đá lở xuống vùi lấp hai em đang ngủ say khi bố mẹ đi nương chưa về.

Đó mới chỉ là một phần nỗi tang thương khủng khiếp do mưa lũ, sạt lở ở các vùng chủ yếu là người dân tộc thiểu số sinh sống ở những dãy núi cao mà năm nào cũng xảy ra, không ở bản làng này thì ở bản làng khác. Và với miền núi phía Bắc, năm ngoái dù sao cũng vẫn còn may mắn hơn năm nay – đến giờ vẫn chưa thể thống kê hết thiệt hại sau cơn bão số 3.

Chú thích: Sạt lở sau bão số 3 ở thôn Tả Suối Câu, xã A Lù, Bát Xát, Lào Cai 19-9-2024 Ảnh: Đỗ Trọng Hiệp

Đã qua những ngày bão táp, câu hỏi lâu dài hơn là sau khi những cơn lũ và sạt lở đất quét qua làng, rồi đây người dân tộc thiểu số sẽ đứng lên bằng gì? Và những đứa trẻ, các em sẽ làm gì đây sau này lớn lên?

Mấy năm nay tôi đi miền núi phía Bắc liên tục, leo lên những bản làng cheo leo, những con đường mòn trên núi cao nhất của Mù Cang Chải – nơi chỉ có những bản làng người Mông cho đến các huyện Sa Pa, Bát Xát (Lào Cai) tới những làng người Dao, người Mông, người Hà Nhì ở hay Bình Liêu, Quảng Ninh có người Dao sinh sống… 

Tôi quan sát miền núi ở nhiều góc độ khác nhau, phỏng vấn nhiều nhân vật khác nhau, từ các cán bộ địa phương (cấp huyện, cấp xã, thôn bản), người dân (ở cả các nhóm nghèo vốn chiếm đa số ở các nhóm dân tộc thiểu số miền núi và một số rất ít các hộ nhạy bén làm kinh tế giỏi), chuyên gia kinh tế và chuyên gia khảo sát các hiện tượng như sạt lở, lũ quét… và đọc hàng chục báo cáo đã được công bố.

Một miền núi lãng mạn và một miền núi bi kịch

Tiếc là, người miền núi sở hữu cảnh quan đẹp hùng vĩ, những ruộng bậc thang tạo tác kiến trúc kỳ vĩ bậc nhất đất nước lại hầu như chưa được hưởng lợi từ những tài sản vô giá mà người dưới xuôi vẫn gọi là “view triệu đô” đó. Tiếc là, đối diện với một miền núi mộng mơ lãng mạn là một miền núi bi kịch với chồng chồng lớp lớp nguy cơ.

Tất cả những miền đất tôi vừa kể trên, bước vào mùa khô, mùa thu hoạch hay mùa hoa đào trước Tết đều đẹp như chốn bồng lai tiên cảnh, nơi những bậc thang lúa, bậc thang mây, núi rừng phủ hoa trải dài ngút mắt. 

Nhưng những cơ hội triệu đô ấy phần lớn mới ở dạng tiềm năng chưa thành tiền tươi thóc thật, mà lũ quét, sạt lở lại là hiện thực thường trực, sẵn sàng ụp xuống vào mùa mưa, chỉ là không biết vào lúc nào.

Bước ra khỏi bản khu tái định cư Hồng Nhì Pá cheo leo trên đỉnh núi, điều thấy ngay chưa phải là những cánh đồng ruộng bậc thang ngút mắt, sóng lúa dập dờn của xã Lao Chải mà là những mảng núi trơ trọi vẫn còn nguyên vết tích lở loét sau lũ quét và sạt lở từng mảng.

Để trả lời được câu hỏi ấy, theo cách kinh điển nhất trong phân tích về phát triển ở các cộng đồng là đánh giá các nguồn lực trong sinh kế, chủ yếu xoay quanh các nguồn lực tự nhiên, vật chất, tài chính, con người và tài sản xã hội (mạng lưới xã hội, khả năng tham gia các tổ chức xã hội khác nhau). 

Phân tích tất cả các nguồn lực sẽ là quá sức trong bài viết này, nhưng hai nguồn vốn chính có thể phân tích sâu là vốn tự nhiên (chủ yếu là rừng – nguồn lực vừa là nguồn vốn tự nhiên, là nguồn lực đảm bảo không gian sống an toàn, vừa là bệ đỡ tinh thần, là cội rễ văn hóa) và vốn con người.

Khi nhìn vào và thảo luận về các nguồn lực phát triển cho vùng dân tộc thiểu số ở miền núi, sau khi lấy cơ hội trừ đi thách thức, lấy điểm mạnh trừ đi điểm yếu, tôi e rằng không thể tránh được rất nhiều nỗi lo lắng về miền núi. Dù gì chúng ta cũng phải phân tích dựa trên bằng chứng.

Chú thích: Sạt lở sau bão số 3 ở thôn Tả Suối Câu, xã A Lù, Bát Xát, Lào Cai 19-9-2024 Ảnh: Đỗ Trọng Hiệp

Đầu tiên là về rừng. Điều chúng ta tự hào là độ che phủ tốt (hơn 42%) không khỏa lấp được con số rừng giàu đóng tán chỉ chiếm 4,6% tổng độ che phủ rừng, theo báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) .

Điều ấy có ảnh hưởng gì trong bối cảnh các thảm họa như lũ quét, sạt lở đất ngày càng tăng? Vai trò của rừng giàu đa dạng sinh học trong giảm lũ lụt, lũ quét đã được phân tích, có thực nghiệm và được công nhận từ hàng nửa thế kỷ nay. Về vai trò của rừng trong phòng chống sạt lở, khoảng chục năm trở lại đây có nhiều báo cáo ghi nhận. 

Tiêu biểu, báo cáo của FAO về vai trò của rừng trong phòng tránh sạt lở đã nhận xét: rừng có đa dạng sinh học, rừng giàu thường liên quan đến tái sinh tự nhiên có thể làm tăng độ ổn định của độ dốc cao hơn rừng với cây độc canh và ở cùng một độ tuổi.

Báo cáo lưu ý rằng không thể nhìn thấy ngay hệ quả của việc suy giảm rừng giàu, rừng tự nhiên lên các thảm họa như lũ quét, sạt lở, có thể nhiều năm sau đó mới thấy hệ quả và rồi hệ quả tiếp tục kéo dài hàng chục năm cho đến khi phục hồi được hệ sinh thái rừng giàu. 

Chẳng hạn, riêng với sạt lở đất, lở đất bắt đầu gia tăng khi rễ cây mục nát vào khoảng ba năm sau khi phá rừng và khả năng bị tổn thương vẫn ở mức cao cho đến khoảng 15 năm khi rễ của rừng tái sinh trưởng thành.

Một mảng sạt lở ở xã Hồ Bốn, Mù Cang Chải – có thể nhìn thấy những mảng sạt lở lớn này bất kỳ đâu ở các xã Lao Chải, Khao Mang, Hồ Bốn, huyện Mù Cang Chải sau cơn lũ tháng 8-2023.

Về xu hướng sẽ còn gia tăng các thảm họa lũ quét sạt lở, chúng ta không có số liệu theo thời gian với khung thời gian dài cho thấy xu hướng ở riêng Việt Nam nhưng có số liệu chung của châu Á. 

Dữ liệu cho thấy tần suất lở đất gây tử vong hoặc ảnh hưởng đến người dân ở châu Á đã tăng hơn 5 lần kể từ những năm 1970 – 2009 (thậm chí số người tử vong do các vụ lở đất do lượng mưa gây ra ước tính cao hơn khoảng 6 lần so với các vụ lở đất do động đất gây ra). Các tính toán này còn chưa tính đến hiện tượng thời tiết cực đoan gần đây, hệ quả của biến đổi khí hậu đang đến ngày càng nhiều.

Trong khi khôi phục hệ sinh thái đòi hỏi quá trình rất dài thì miền núi lại đang đối diện với ngày càng nhiều nguy cơ, chủ yếu từ sạt lở và lũ quét chồng chập và các nguyên nhân rất phức tạp. 

Hiện nay, ngoài bản đồ, chưa có các dữ liệu chung, khảo sát theo khung thời gian dài cho cả bức tranh tổng thể về xu hướng lũ lụt sạt lở cũng như bóc tách mọi nguyên nhân với tất cả các điểm ở miền núi phía Bắc, nhưng tìm các phân tích ở một số điểm giúp chúng ta hình dung được nguy cơ rất lớn và đang ngày càng tăng.

Chẳng hạn, một nghiên cứu, mới xuất bản đầu năm 2024, phân tích 226 điểm dễ xảy ra lũ quét và 452 điểm dữ liệu lịch sử để dự đoán xác suất xảy ra lũ quét và xây dựng bản đồ nguy cơ lũ quét từ 2013-2022 ở huyện Mường La (Sơn La) cho thấy khu vực được phân loại là “có khả năng xảy ra lũ quét cao” và “rất cao” trong giai đoạn 2013-2022 tăng lên 11,7% so với giai đoạn 2001-2010.

Nghiên cứu cũng cho thấy nguyên nhân có thể đến từ việc thay đổi mục đích sử dụng đất, làm giảm độ che phủ đất như nạn phá rừng, đô thị hóa hoặc các hoạt động nông nghiệp làm gia tăng lũ quét… 

Trong khi các thông số về mật độ che phủ thực vật giảm đi, cho thấy thảm thực vật thưa thớt hoặc đất cằn cỗi, làm giảm khả năng hấp thụ nước và tăng nguy cơ xảy ra dòng chảy bề mặt và lũ quét thì ngược lại, các thông số cho thấy diện tích xây dựng tăng, khiến các khu vực này dễ bị lũ quét hơn do dòng chảy tích tụ nhanh chóng khi có mưa lớn.

Nhìn ở khía cạnh khác như giao thông – yếu tố căn bản nhất trong loạt hạ tầng “điện, đường, trường, trạm” với miền núi, có nghiên cứu đánh giá các nguy cơ lũ lụt với giao thông Tây Bắc quốc lộ 6 – trục đường chính đi lên Tây Bắc – cho thấy hiện trạng phức tạp, nguy cơ với trục giao thông huyết mạch của Tây Bắc này rất cao.

Nghiên cứu này thu thập dữ liệu về các vị trí lũ quét và trượt lở đất trong ba năm 2017, 2018, 2019, gồm 88 điểm lũ quét và 235 điểm trượt lở trên trục đường 115km, tập trung vào phạm vi 3km dọc trục đường nghiên cứu. 

Tổng cộng diện tích có “nguy cơ cao và rất cao” là 60,44% (trong đó 44,89% diện tích nằm trong vùng nguy cơ “rất cao”, 15,55% diện tích có nguy cơ “cao”). Trước hàng loạt nguy cơ như vậy, làm sao biết trước để tránh?

Sạt lở ở xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, Yên Bái sau cơn bão số 3. Ảnh: Thu Quỳnh

Trước những nguy cơ còn chưa bộc lộ hết ấy, các địa phương, hầu hết đều là tỉnh nghèo, huyện nghèo, dù dốc hết sức lực, vẫn cần hỗ trợ rất lớn từ ngân sách trung ương để chạy đuổi khắc phục hậu quả của suy giảm hệ sinh thái rừng, của lũ quét và sạt lở ngày càng trầm trọng.

Năm nay chưa có nhiều số liệu và chưa tổng kết được hậu quả của mưa lũ, sạt lở nhưng riêng năm 2023, chỉ với Mù Cang Chải, chỉ một trận lũ 5-8-2023 đã khiến huyện này thiệt hại 100 tỉ (bằng ⅔ con số thu ngân sách năm 2023 của huyện là 150 tỉ đồng). 

Việc khắc phục, cơ bản nhất là tìm nơi ở mới, xây dựng nhà ở cho các hộ đã bị hỏng nhà cửa hoặc có nguy cơ mất an toàn cũng rất khó khăn. Hồng Nhì Pá là một trong hai khu tái định cư tập trung mà huyện Mù Cang Chải thu xếp san ủi được sau trận lũ (mỗi khu chỉ có thể ở tập trung được hơn 10-15 hộ), còn lại phải tìm các điểm tái định cư xen kẹp chứ quỹ đất cũng không có nhiều.

Trong chuyến công tác năm ngoái, tôi trao đổi với GS.TS Đỗ Minh Đức và các chuyên gia Viện địa công nghệ và môi trường, Trường ĐH KHTN, ĐHQG Hà Nội ngay tại Mù Cang Chải khi ông lên đánh giá nguy cơ sạt lở ở đây. Cả giáo sư Đức và các cán bộ địa phương đều đánh giá nếu xu hướng lũ quét, sạt lở gia tăng, việc thu xếp để di dời người dân đến chỗ an toàn sẽ ngày càng khó khăn hơn do quỹ đất eo hẹp, giải phóng quỹ đất rộng cần nguồn ngân sách quá lớn. 

Những đề xuất quy mô lớn “tập trung khối lượng đủ lớn dân cư để đảm bảo an toàn tái định cư cho cả thôn hoặc xã chẳng hạn” sẽ cần tới kinh phí từ trung ương. Riêng việc xử lý được một số khối trượt hiện vẫn đang tồn tại ở ngay tại thị trấn Mù Cang Chải cũng vượt quá khả năng của huyện hoặc của tỉnh. 

Chỉ một huyện đã như vậy, hãy hình dung tái định cư, tái cấu trúc không gian sống của người dân tộc thiểu số ở miền núi ra khỏi các khu vực nguy cơ cần nhiều thời gian và nguồn lực tài chính khổng lồ tới mức nào.

Từ quá khứ đến tương lai

Đi tìm một không gian đủ an toàn, ổn định vẫn còn khó khăn, vậy cơ hội phát triển kinh tế ở những vùng này sẽ như thế nào?

Muốn biết tương lai ra sao, cần nhìn về nguồn lực trong quá khứ. Khi rừng giàu đa dạng sinh học suy giảm, những huyền thoại về miền núi giàu có trù phú tài nguyên giờ đây đã xa xôi. Vào những năm 2010, gần 2/3 dân số các nhóm dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc sống dưới mức nghèo khổ và khoảng 42% sống dưới mức nghèo khổ cùng cực.

Người nghèo ở vùng này cũng nghèo hơn nhiều so với người nghèo dân tộc thiểu số ở các vùng khác. Khoảng cách nghèo đói ở nhóm này gần gấp ba lần người nghèo dân tộc thiểu số khác và gấp khoảng 10 lần người nghèo Kinh/Hoa. Ở thời điểm đó, các nhà nghiên cứu đánh giá người nghèo dân tộc thiểu số ở vùng núi Tây Bắc là người nghèo nhất theo bất kỳ thước đo nào về nghèo đói.

Sau khoảng 10 năm, quả thực cũng có những nhóm khá hơn lên nhưng khi xét đến sự phát triển của một cộng đồng thì đa phần các nhóm dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc không có tài sản gì nhiều, các nhóm dân tộc thiểu số ít người ở vùng sâu vùng xa có tỉ lệ nghèo và cận nghèo lên tới 70%, thậm chí ở một số dân tộc còn là 80% và tỉ lệ nghèo cùng cực vẫn là 45,5% (tụt lại quá xa so với người Kinh/Hoa, có tỉ lệ nghèo cùng cực chỉ là 2,9%).

Sùng Thị Dua trong căn nhà mới được chính quyền trợ cấp, dựng lại ở bản Hồng Nhì Pá, xã Lao Chải, Mù Cang Chải. Nhà cũ bị sạt lở phải di dời khẩn cấp. Chỗ nồi niêu xoong chảo đó là tất cả tài sản Dua mang được từ nhà cũ qua.

Trước tình cảnh khó khăn khi làm nông nghiệp ngày càng không đủ sống, nguồn lợi từ rừng ít ỏi, một chiến lược sinh kế của người dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc những năm gần đây là di cư tìm việc làm ở đô thị mặc dù đây cũng là một con đường chẳng dễ dàng, bởi họ không có trình độ và kỹ năng, thường chỉ làm được các công việc phi chính thức, bấp bênh, đồng lương rẻ mạt. 

Gần đây một số tính toán của các nhà kinh tế cho thấy bằng chứng rõ ràng về quyết định di cư của lao động làm nông nghiệp chịu ảnh hưởng từ sức ép môi trường, cho thấy rõ mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng thời tiết cực đoan bao gồm mưa rất lớn, nóng hoặc lạnh cực đoan với xu hướng di cư.

Một nghiên cứu khác, phân tích dữ liệu từ Điều tra tiếp cận nguồn lực của hộ gia đình trong cả nước, cho thấy trong khoảng 10 năm gần đây, những nơi chịu lũ lụt ngày càng thường xuyên hoặc nghiêm trọng hơn, thì người dân thường di cư nhiều hơn, cứ rủi ro lũ lụt tăng lên thì số người di cư lâu dài sẽ tăng lên. Đặc biệt, “các xã nơi lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn hoặc nghiêm trọng hơn trong thập kỷ qua cũng có lượng di cư nhiều hơn đáng kể”, nghiên cứu kết luận.

Còn nhìn về nguồn lực con người cho tương lai, thật bất định khi học sinh các nhóm dân tộc thiểu số khó khăn nhất ít có khả năng đi học nhất. Đơn cử, trong các dân tộc, dân tộc Mông có tỉ lệ trẻ em ngoài nhà trường (khái niệm trẻ em ngoài nhà trường: đúng ra trẻ phải theo học một cấp học nào đó nhưng không đi học ở cấp học đó) ở cấp THCS cao nhất gấp gần 7 lần mức trung bình của cả nước. Tỉ lệ không chuyển cấp ở dân tộc Mông cũng cao nhất, gần gấp 3 lần so với các dân tộc khác. 

Học vấn thấp sẽ khiến các em sau này càng ít cơ hội vươn lên thoát nghèo. Trong khi bằng chứng nghiên cứu từ nhiều nước đã chứng minh mỗi năm đi học giúp tăng thu nhập thêm 8-10%, ngược lại cứ giảm mỗi 1/3 năm học thì thu nhập trong đời người bị giảm 3%.

Hãy nhìn lại những phát hiện khoa học khác – tạm gọi là về tính di truyền của kiếp nghèo – về khả năng vươn lên thay đổi vận mệnh của con cái phụ thuộc rất nhiều vào trình độ hiểu biết của cha mẹ. 

Trong cùng một điều kiện kinh tế – xã hội thì khả năng vươn lên, chuyển đổi nghề nghiệp của người con trong gia đình có bố là lao động tay chân kém so với người có bố là lao động trí óc tới 17 lần. Đặt trong bối cảnh các cú sốc thiên tai ngày càng nhiều và trình độ học vấn thấp hơn hẳn so với các nhóm khác thì thế hệ sau của người dân tộc thiểu số càng ít có cơ hội thay đổi số phận.

Nơi ta đặt vào một tia hy vọng

Vậy có cách nào phát triển được cộng đồng dân tộc thiểu số ở miền núi? Giả sử vượt qua được những khó khăn ở trên để có môi trường sống an toàn, thì cách thức nào hỗ trợ những người miền núi có trình độ học vấn rất thấp phát triển kinh tế được? Tôi cố gắng nhìn vào những trường hợp “điển hình tiên tiến” từng gặp ở các bản làng miền núi.

Quả thực đã có một số nhóm có chất lượng sống tốt hơn, có những thanh niên thoát nghèo, những anh giám đốc cần mẫn phát triển được doanh nghiệp nhỏ bé từ tri thức bản địa và cảnh quan độc đáo (chủ yếu gồm nông sản, dược liệu, homestay du lịch). Họ vừa có khả năng học tập vừa được sự hướng dẫn chặt chẽ của những nhóm phát triển cộng đồng.

Nhưng những tấm gương ấy vẫn còn quá ít, ở mỗi xã tôi đến chỉ điểm được dăm bảy người như vậy và họ cũng trày vi tróc vảy mới phát triển được. Bởi, dù ngay cả khi có cùng xuất phát điểm, như trình độ học vấn, thì cũng giống như người Kinh ở thành phố hay đồng bằng, các nhóm người dân tộc thiểu số khởi nghiệp sản xuất hay kinh doanh đều mắc vào đủ các vấn đề. 

Từ phân tích SWOT về các nguồn lực sinh kế hộ gia đình (hoặc nhóm hộ, HTX) đang có, phát triển sản phẩm độc đáo, đánh giá thị trường, tìm đầu ra, quảng bá ra thị trường, kết nối nhân lực đến những chiến lược marketing bán hàng rất cụ thể như đánh giá đối thủ, chào hàng ở đâu, làm thế nào nổi bật và khác biệt, hay đơn giản như thiết kế cái vỏ hộp sản phẩm như thế nào cho ấn tượng, nhắm trúng khách hàng mục tiêu… tất thảy đều thách thức với bất kỳ hộ kinh doanh/HTX nào.

Bước vào thị trường, không ai mua bán bằng tình thương, bằng cứu trợ như cách Nhà nước và các tổ chức vẫn cứu trợ miền núi mỗi mùa mưa. Thị trường mua bán nhờ vào sản phẩm chất lượng cao và ổn định, nhờ chiến lược tiếp thị khôn ngoan độc đáo. 

Chứng kiến các nhóm dân tộc thiểu số khởi nghiệp từ vốn gần như 0 đồng tôi mới biết có cả trăm điểm vướng mắc cần đến người hướng dẫn, từ cách thức nghiên cứu sản phẩm tri thức tộc người, chuyển đổi những sản vật, công thức đặc trưng của tộc người thành sản phẩm công nghiệp đạt quy chuẩn vào thị trường đến vay mượn, quản lý dòng tiền… tất thảy đều xa lạ với người miền núi.

Khu tái định cư ở bản Hồng Nhì Pá, xã Lao Chải, huyện Mù Cang Chải, mới được xây dựng sau trận lũ 5-8-2023

Trong điều kiện như thế, nếu chỉ bằng cái nhìn quá giản đơn, cho rằng hỗ trợ một vài chương trình vay vốn, hỗ trợ ở quy mô hộ gia đình trồng cây gì nuôi con gì là xong cả một chuỗi dài thị trường đằng đẵng, ai làm?

Để biến những thế mạnh có sẵn về cảnh quan, sản phẩm độc đáo… thành tiền đòi hỏi phải đầu tư. Người miền núi sẽ đầu tư như thế nào khi kiến thức quản lý bằng không, nguồn lực tài chính rất ít ỏi, rào cản ngôn ngữ quá lớn? Người hướng dẫn nào, doanh nghiệp nào đồng hành với những người mà tiếng Kinh còn chưa thạo như vậy và sẵn sàng bỏ tới 10-20 năm đồng hành?

Một trong những người hướng dẫn hiếm hoi có tiếng là gan lì với miền núi, am hiểu miền núi nhờ xuất thân từ người thiểu số ở miền núi như PGS.TS Trần Văn Ơn (ĐH Dược, sáng lập DK Pharma) mà lặn lội cả cuộc đời cũng chỉ hỗ trợ được cho hơn hai chục nhóm thiểu số để phát triển dược liệu kết hợp du lịch ở miền núi, trong đó cũng chỉ có 1/3 nhóm thành công tốt, 1/3 ở mức trung bình và 1/3 rất chật vật để sống sót. 

Đó là chưa kể cứ “đụng” vào những thứ ông không rành, như thuế má chứng từ, kiến trúc, xây dựng nhà xưởng, ông phải mời ngay nhóm khác có chuyên môn lên hỗ trợ.

Nếu không có ít vốn liếng, kiến thức và khả năng học hỏi hay người hướng dẫn sát sao, đa phần người dân tộc thiểu số chỉ có thể tiếp tục bán sức lao động, dù di cư hay trên quê hương mình, ở những công đoạn đơn giản nhất.

Điều đó đòi hỏi những chương trình phát triển miền núi, vừa quyết tâm lớn đến độ giải quyết được hết những nguy cơ rủi ro cho đến đầu tư dài hơi bền bỉ để phát triển miền núi từ những nhóm thiểu số, bằng cách nâng cao tri thức từ người lớn đến học sinh đang trên ghế nhà trường, bằng cách cầm tay chỉ việc, bằng hàng trăm buổi học, bằng hỗ trợ nghiên cứu phát triển sản phẩm, hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ, cần đến mạng lưới hàng trăm mentor từ nhà lý thuyết khởi nghiệp, lý thuyết quản trị cho đến những chủ doanh nghiệp dày dặn trận mạc, vay vốn và quản trị dòng tiền…

Ai sẽ lặn lội làm điều đó, cho miền núi? 

Ở Việt Nam chúng ta ít thấy các nghiên cứu thực nghiệm, nhưng trên thế giới hiệu quả của rừng trong việc ổn định ở khu vực dốc được chứng minh bằng dữ liệu thực nghiệm về sạt lở sau khi phá rừng đột ngột.

Chẳng hạn, một trong những nghiên cứu đầu tiên đánh giá tác động của việc chặt phá rừng đối với sạt lở đất đã xem xét dữ liệu từ đông nam Alaska. Cả tần suất và diện tích cộng dồn của các trận lở đất đều tăng mạnh sau khi khai thác gỗ (bắt đầu tăng 2-3 năm sau khi khai thác gỗ, trùng với thời điểm rễ cây bị mục nát và rễ không còn cố kết được đất).

Tần suất các trận lở đất và dòng chảy đất đá tăng đáng kể trong 9 năm cho đến khi thảm thực vật rừng được phục hồi. Diện tích chịu tác động của sạt lở đất trong giai đoạn này lớn hơn 5 lần so với diện tích bị lở đất ước tính trong giai đoạn 100 năm trước khi khai thác gỗ.

Rõ ràng, giữ được rừng đa dạng sinh học là điều tối quan trọng với miền núi. Nhìn chung rừng giàu với đa dạng cây và rễ sâu đan bện dày đặc làm giảm được lũ quét sạt lở đất, giúp gia cố đất (dù với các trận sạt lở sâu và rất lớn do mưa quá lớn liên tục hay động đất thì vai trò của rừng cũng bị hạn chế).

Cà phê Việt Nam: Giải pháp vượt qua “hàng rào” EUDR

!– wp:paragraph –>

Tia sáng – 11/06/2024

Yêu cầu truy xuất nguồn gốc theo Quy định chống phá rừng của châu Âu (EUDR) đang đặt ra thách thức chưa từng có với Việt Nam, quốc gia xuất khẩu cà phê thứ hai thế giới nhưng lại chủ yếu dựa vào hộ canh tác nhỏ.
Vậy giải pháp nào phù hợp khi chỉ còn vỏn vẹn bảy tháng nữa là Việt Nam phải tuân thủ EUDR?

Thu hoạch cà phê ở Gia Lai. Ảnh: Nguyen Quang Ngoc Tonkin/ Shutterstock.
Tiếp tục đọc “Cà phê Việt Nam: Giải pháp vượt qua “hàng rào” EUDR”

Vòng lặp đói nghèo trước sự bất định của tự nhiên

tia sáng – 18-1-2024

Sự suy giảm nghiêm trọng của không gian sinh tồn là đại ngàn và sự bất trắc của thiên tai, biến đổi khí hậu đã khép chặt vòng lặp đói nghèo ở người dân tộc thiểu số. Liệu có lối thoát cho họ?

Bơ vơ trong không gian sinh tồn

“Lúc chập tối, tầm 7 giờ, cả nhà đang ăn cơm thì mưa to, tôi nghe tiếng sạt ở nhà bên cạnh nên cầm đèn pin soi xung quanh thấy ầm ầm toàn cây, nước và đất đá đen sì đổ từ phía bản Đề Sủa (xã Lao Chải) về nên gọi vợ con bế hai đứa cháu chạy lên núi. Tôi chẳng kịp mặc thêm áo, chỉ mặc mỗi cái quần, tay cầm điện thoại, đèn pin và cây gậy to đi khắp các nhà trong khu, đập cửa, hô hoán “có chạy không là chết, lũ về” ”.

“Không kịp mang theo cái gì ngoài cái thân mình thôi”, A Lầu kể lại điều diễn ra trong ngày mà ông và dân làng không bao giờ quên, ngày 5 tháng 8, “Không kịp nghĩ gì nữa, phản xạ lao ra khỏi nhà. Không có đường, cứ bò, men theo núi”, trong đêm đen, A Lầu cùng 47 hộ trong bản Trống Là, sát ven suối Nậm Kim của xã Hồ Bốn, huyện Mù Cang Chải, Yên Bái, vượt núi đến gần sáng mới tới được bản Nả Tà trú ẩn.

Gia đình A Lầu vẫn còn may mắn hơn hàng xóm Cứ A Tùng và Giàng Thị Chù. Trong cơn tứ tán, gia đình A Tùng chạy vào trạm y tế xã vì ngỡ nơi đây kiên cố nhưng rồi lũ tiếp tục cuốn vào, hai vợ chồng bế hai đứa trẻ vội băng qua suối “nước dâng tới bụng, tới lưng” người lớn và quay lại đã không còn thấy bố của Tùng nữa. Hai ngày sau, người ta tìm thấy ông ở thủy điện Huội Quảng, huyện Mường La, Sơn La.

Lũ phá tan toàn bộ tuyến đường huyết mạch vào xã Hồ Bốn. Ảnh một ngày sau trận lũ 5/8/2023. Tác giả: Việt Cường.
Tiếp tục đọc “Vòng lặp đói nghèo trước sự bất định của tự nhiên”