Khát khao con chữ trên đỉnh Màng Ten

Trang Thy    06:31 – 11/08/2021  

TNBé thơ ê a đánh vần con chữ giữa rừng tựa tiếng chim hót chốn non cao. Bàn tay nhỏ cầm bút nắn nót viết vào trang vở kê trên khúc cây khô khiến bao người thương cảm…

Thỉnh thoảng có chú công an vào rừng dạy chữ cho các cháu /// Ảnh: Trang Thy

Thỉnh thoảng có chú công an vào rừng dạy chữ cho các cháu – ẢNH: TRANG THY

Mùa nắng hạ, nhiều cặp vợ chồng dân tộc HRê ở huyện miền núi Ba Tơ (Quảng Ngãi) đưa con vào rừng “sống đời Digan”. Ngày, cha mẹ nhọc nhằn cưa hạ, lột vỏ keo thuê. Đêm, cả gia đình quây quần trong lán trại trên đỉnh cao lộng gió. Tiếng trẻ thơ ê a đánh vần con chữ giữa rừng khiến họ xót thương phận mình, rồi nhủ lòng phải gắng sức đưa con đến trường cho đời vơi khổ.

Đời cha thiếu chữ…

Đêm trên đỉnh Màng Ten (giáp ranh Ba Tơ và Đức Phổ), tôi đã nghe những câu chuyện của nhóm người ở thôn Hố Sâu, xã Ba Khâm, H.Ba Tơ đi khai thác keo thuê mà xót lòng. Do ít học và thiếu đất sản xuất nên nhiều người HRê phải chịu cảnh nghèo khổ, sống đời làm thuê, rong ruổi khắp núi rừng.

Phận nghèo lan sang con cháu như định mệnh, khổ cực bám lấy những con người hiền lành, chất phác. Hơn 40 tuổi, vợ chồng anh Phạm Văn Héo và chị Phạm Thị Biết trải qua bao nỗi cơ cực nơi núi rừng. Ngày ngày, anh cùng người làng rong ruổi khắp rừng tìm lâm sản mang về bán cho thương lái miền xuôi. Chị cặm cụi chăm bón sào ruộng lúa bậc thang bạc màu nên thu nhập chẳng đáng là bao. Rồi rừng keo trải dài, bao phủ núi gần lẫn non xa. Khoản tiền thu từ keo làm giàu cho chủ rừng, nhưng gây ảnh hưởng đến sinh kế của bao cư dân miền sơn cước. Lâm sản khan hiếm nên những chuyến đi rừng dài ngày trở về với tiếng thở dài nghe não lòng. Mạch nước ngầm cạn kiệt, ruộng lúa chỉ sản xuất một vụ trong năm. Sống giữa rừng nhưng chẳng thể dựa vào rừng, họ đành dắt nhau rời làng mưu sinh nơi xa.

Chớm đông, vợ chồng anh Héo gửi con nhỏ rồi bắt xe lên Tây nguyên hái cà phê, làm thuê cho chủ vườn. Chừng đôi tháng, anh chị về nhà khi hết việc làm trên miền cao nguyên đất đỏ. Niềm vui khi được ôm con vào lòng xen lẫn âu lo vì “những ngày sắp tới làm gì ra tiền” lởn vởn trong tâm trí. Dịp may đến với anh chị khi người làng rủ vào rừng cưa hạ cây keo và lột vỏ thuê. Niềm vui vì có việc làm xua đi khổ cực lẫn nỗi lo hiểm nguy cận kề. “Vợ chồng tôi đều không biết chữ nên có việc làm là tốt lắm rồi. Bao đời ông bà rồi đến mình đều khổ. Vậy nên hai vợ chồng ráng làm kiếm tiền cho con ăn học”, chị Biết tâm sự.

Anh Phạm Văn Thủy rì rầm kể chuyện đời mình giữa rừng đêm. Học đến lớp 6, vì “đường sá gập ghềnh, trường xa, nhà khó” nên anh nghỉ học như bao thiếu niên cùng làng. Rồi theo bạn bè đi làm. Lần đầu tiên trong đời, anh mừng rơi nước mắt khi cầm trên tay 900.000 đồng tiền công cả tháng hái cà phê thuê cho chủ vườn ở Tây nguyên. Và kiếp làm thuê cơ cực vận vào đời anh từ đấy. Mùa khô, anh cùng vợ và người làng cưa hạ, lột vỏ keo thuê trên những miền rừng xa thẳm. Khi những cơn mưa tắm mát núi đồi, cây lá tốt tươi, anh cùng nhiều người lom khom phát chồi thuê dưới tán keo xanh mướt. Lao động cực nhọc và cận kề hiểm nguy, nhưng đó là điều may mắn vì có việc làm.

Khát khao con chữ trên đỉnh Màng Ten1Trẻ thơ đánh vần con chữ trong đêm – ẢNH: TRANG THY

Thấm nỗi cơ cực vì thiếu học nên anh luôn cố gắng làm mọi việc để kiếm tiền lo cho con đến trường. Những ngày hè, vợ chồng anh mang hai con vào rừng để được quây quần trong lán trại sau những giờ lao động vất vả. Bước vào năm học, anh gửi con cho người chị gái đón đưa đến trường mỗi ngày. Chiều muộn, vợ chồng anh cưỡi xe máy vượt hàng chục cây số về nhà để được trông thấy con, dù nhiều bữa các bé ngủ vùi mang cả đợi chờ vào trong giấc mơ.

Ê a con chữ giữa rừng

Bé Phạm Thị Trần (8 tuổi, con gái của vợ chồng anh Héo) cặm cụi làm phép tính cộng trừ dưới ngọn đèn điện tỏ mặt người. Bàn học là khúc gỗ keo khô kiệt vì nắng nóng, ghế là đôi dép nhựa lót trên nền đất nâu giữa rừng. Những ngón tay nhỏ gầy cầm bút nắn nót viết từng con số vào trang vở mỏng như lá rừng. Nghe lời khen khi làm phép tính đúng, bé mỉm cười, vẻ mặt bẽn lẽn ngước lên nhìn khách lạ rồi cặm cụi bên trang giấy.

Vợ chồng anh Héo nở nụ cười tươi làm phai mờ những vết nhăn trên gương mặt sạm đen sau bao ngày dãi dầu mưa nắng. Mùa thu tới, bé vào lớp 3 với quãng đường đến trường chừng 9 km trập trùng đèo dốc. Vì không biết lái xe nên chị Biết phải vào rừng làm thuê, anh Héo ở nhà đưa đón con đến lớp mỗi ngày. “Dù mình tôi đi làm ít tiền hơn nhưng cũng để chồng ở nhà đưa đón con. Phải cho con học để biết thêm cái chữ. Đến hè cả hai vợ chồng cùng đi làm và dẫn con vào rừng…”, chị bộc bạch.

Khi cha mẹ bận rộn công việc ngoài rừng, bé Trần trông chừng em nhỏ, con của những người chung nhóm cưa hạ và lột vỏ keo thuê. Bé vào vai cô giáo chỉ bảo các em ê a đánh vần con chữ bên lán trại. Những đôi mắt ngây thơ nhìn vào trang vở, miệng líu lo như chim hót đón chào nắng ban mai. Tóc rám nắng lòa xòa, phất phơ trước gió. Các cháu hồn nhiên đọc chữ, đùa vui giữa núi rừng. Trẻ thơ chơi chán rồi học, học rồi lại chơi. “Con bày chữ mấy em đọc chứ viết chưa được. Mấy em ưng chơi học chữ lắm”, bé Trần rụt rè cho biết.

Khát khao con chữ trên đỉnh Màng Ten2Sau giờ bóc vỏ keo, Phạm Văn Tuấn (14 tuổi) dạy các em phép tính

Các cháu bé trú ngụ cùng cha mẹ trên đỉnh Màng Ten hào hứng đón nhận chiếc bảng nhựa mỏng cùng hộp phấn trắng bạn tôi mang vào rừng. Các cháu xúm quanh chiếc bảng treo lên chạc cây, hí hoáy viết chữ, xóa sạch rồi lại viết, gương mặt lộ vẻ thích thú. Sau giờ lột vỏ keo, em Phạm Văn Tuấn (14 tuổi) cầm phấn đứng trước bảng dạy các em thơ. Các cháu chăm chú lắng nghe, miệng há tròn như nuốt từng lời. Những đôi mắt mở to nhìn lên bảng, vẻ mặt đầy háo hức.

Sau tiếng đọc của Tuấn, giọng các cháu hòa theo rập ràng trong gió ngàn xào xạc. “Nhiều em chưa biết chữ và con số, nhưng ưng học lắm. Đọc xong bữa sau quên mất nhưng vẫn ưng học. Cháu theo mấy cô, chú lột vỏ keo đến khai giảng năm học mới thì nghỉ làm để đến trường. Lúc đó, cháu có tiền mua sách vở và phụ giúp gia đình rồi. Hè sang năm tiếp tục vào rừng làm nữa…”, Tuấn cho biết.

Nhìn con dõi theo dòng chữ trên bảng, anh Thủy thỏa lòng ước nguyện, gương mặt rạng ngời niềm vui. Anh nhắc vợ mua quần áo mới cùng dụng cụ học tập cho 2 con: đứa lớn sắp vào lớp 5, nhỏ vào lớp 2. Căn nhà tạm bợ, khoản tiền thu nhập từ việc làm thuê thất thường, nhưng anh dự định tìm cô giáo dạy thêm cho con lớn để sức học theo kịp chúng bạn. “Dù nghèo khổ tôi vẫn gắng cho con ăn học cái chữ. Có ăn học kiếm cái nghề thì đời mới bớt cơ cực. Nếu không thì chỉ quẩn quanh, làm thuê trong rừng, biết bao giờ mới hết khổ!”, anh khẳng định.

Tôi cùng bạn rời đỉnh Màng Ten với những cánh tay bé nhỏ vẫy chào tạm biệt. Ngoảnh nhìn, dáng đứng trẻ thơ tựa cây non vươn lên trong nắng sớm. Tiếng ê a đánh vần con chữ theo mỗi bước chân qua đèo dốc điệp trùng.

Ông Lữ Đình Tích, Phó chủ tịch UBND H.Ba Tơ (Quảng Ngãi), cho biết: Theo số liệu thống kê, có hơn 1.000 người dân trong huyện làm nghề khai thác cây keo thuê. Những lúc nông nhàn, họ đi làm thuê để kiếm thêm nguồn thu nhập. Cuộc sống của bà con được cải thiện hơn so với trước, nhưng nhiều người vẫn còn khó khăn. Nhà nước cũng hỗ trợ kinh phí cho con em hộ nghèo và những học sinh ở xa trường nhằm khuyến khích, động viên các em đến lớp.

Tỉ lệ người học đại học Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới

17/06/2019 14:34

TTOMặc dù tổng chỉ tiêu tuyển sinh đại học năm 2019 tăng nhẹ nhưng trên thực tế ở Việt Nam số người trong độ tuổi đi học đại học (từ 18-29 tuổi) tham gia học đại học rất thấp, khoảng 28,3%, thuộc hàng thấp nhất thế giới.

Tỉ lệ người học đại học Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới - Ảnh 1.
Ông Phạm Như Nghệ giải đáp thắc mắc của đại diện các trường tại buổi tập huấn phần mềm tuyển sinh sáng 17-6 – Ảnh: TRẦN HUỲNH

Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học – Bộ GD-ĐT Phạm Như Nghệ – cho biết như vậy trong hội nghị tập huấn tuyển sinh đại học hệ chính quy năm 2019 do Bộ GD-ĐT tổ chức tại TP.HCM hôm nay 17-6.

Trong khi đó, tỉ lệ này ở Thái Lan, Malaysia là 43% hay 48%, còn tại những nước phát triển thì tỉ lệ này còn cao hơn nữa.

Tiếp tục đọc “Tỉ lệ người học đại học Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới”

Những giáo sư bị “bịt miệng” và một nền giáo dục đại học Mỹ đang rung lắc

Xê NHO 4/11/2021 7:10 GMT+7

TTCTTinh thần giáo dục khai phóng, môi trường tự do học thuật, khuyến khích tranh luận có lẽ là những điểm thu hút phụ huynh khi cố gắng cho con đi du học ở Mỹ. Nhưng các vụ việc xảy ra gần đây rất có thể khiến các bậc phụ huynh này phải suy nghĩ lại.

 

Tiếp tục đọc “Những giáo sư bị “bịt miệng” và một nền giáo dục đại học Mỹ đang rung lắc”

Giáo dục Nhật Bản: Trẻ mẫu giáo chia cơm, lớp 1 dọn sân bóng rổ

VNN – 01/11/2021    07:00 GMT+7

Phạm Mạnh Hùng – Viện Kinh tế và Chính trị thế giới, nghiên cứu chuyên sâu về nhân lực, nhân tài, lãnh đạo học, chuyển đổi số

Người Nhật được thế giới nể phục không chỉ vì tạo nên những kỳ tích công nghệ và kinh tế mà còn vì những đức tính cao cả, tinh thần tự lập, kỷ luật, tập thể…

Đó là kết quả của nền giáo dục chuẩn mực không chỉ dạy kiến thức mà còn rất chú trọng “dạy người” từ sớm.

Ứng xử lịch thiệp

Nền giáo dục Nhật vận hành theo nguyên lý lấy “đạo đức làm nền tảng”, “mỗi người học sẽ trở thành một cá nhân hoàn thiện đạo đức”. Bởi vậy, ngay từ mẫu giáo, trẻ em đã được rèn luyện, thực hành các quy tắc ứng xử lịch thiệp từ các hoạt động hàng ngày như biết nói lời cám ơn và xin lỗi, biết chia sẻ trách nhiệm trong tập thể, tính tự lập và tinh thần trách nhiệm với công việc…

Giáo dục Nhật Bản: Trẻ mẫu giáo chia cơm, lớp 1 dọn sân bóng rổ
Học sinh tự dọn dẹp lớp học

Tiếp tục đọc “Giáo dục Nhật Bản: Trẻ mẫu giáo chia cơm, lớp 1 dọn sân bóng rổ”

Giáo dục tài chính dành cho học sinh THPT

23-01-2021 – 13:17

(NLĐO)- Tài chính cá nhân không đơn giản là kiếm thật nhiều tiền hay để dành được thật nhiều tiền mà là tổng hòa của tất cả các vấn đề như: thu nhập, chi tiêu, tiết kiệm, đầu tư, quản lý rủi ro…

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 tại Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020. Trong chiến lược tài chính toàn diện, Giáo dục tài chính là một mục tiêu quan trọng để thực hiện thành công Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia.

Trên thế giới, việc giáo dục tài chính cá nhân được nhiều nước thực hiện cho người dân từ khi nhỏ tuổi (như ở Israel, Nhật Bản, Hà Lan, và các nước phát triển khác).

 Ở Việt Nam, điều này còn khá mới mẻ và người dân vẫn chưa quen với các khái niệm cơ bản về tài chính và quản lý tài chính: Thu nhập, chi tiêu, tiết kiệm. Việc đào tạo kiến thức về tài chính ngay từ trên ghế nhà trường là bước đi cấp bách và mang tính chiến lược.

Giáo dục tài chính dành cho học sinh THPT - Ảnh 1.

Giáo dục tài chính dành cho học sinh THPT được tổ chức sáng 23-1 tại Trường ĐH Ngân hàng TP HCM

Tiếp tục đọc “Giáo dục tài chính dành cho học sinh THPT”

Bỏ ghi hệ đào tạo “chính quy” hay “tại chức” trên bằng đại học từ 1/3/2020

 ĐSPL – Chủ nhật, 01/03/2020 | 04:06

Từ 1/3/2020, hình thức đào tạo là nội dung được ghi trên phụ lục văn bằng chứ không còn được ghi trên văn bằng giáo dục đại học như trước đây.

Từ 1/3/2020, hình thức đào tạo là nội dung được ghi trên phụ lục văn bằng chứ không còn được ghi trên văn bằng giáo dục đại học. Ảnh minh hoạ.

Từ ngày 1/3, Thông tư 27/2019 của bộ GD&ĐT quy định nội dung chính ghi trên văn bằng và phụ lục văn bằng giáo dục đại học sẽ có hiệu lực.

Điểm thay đổi đáng chú ý của Thông tư này là quy định không ghi thông tin về hình thức đào tạo như chính quy hay tại chức, vừa làm vừa học như trong nội dung chính của văn bằng như quy định cũ.

Tiếp tục đọc “Bỏ ghi hệ đào tạo “chính quy” hay “tại chức” trên bằng đại học từ 1/3/2020”

Chiêu trò để trường đại học được xếp hạng quốc tế

TNQuý Hiên – 07:09 – 18/08/2020   

Để có được hạng này, hạng kia ‘đẳng cấp quốc tế’, một số trường đại học Việt Nam đã dùng chiêu mua bán các bài báo khoa học thật nhiều, nhằm ‘khẳng định’… dẫn đầu cả nước về thành tích nghiên cứu.

 /// MINH HỌA: DAD
MINH HỌA: DAD

“Bứt phá” nhờ mua bán bài báo khoa học?

Giai đoạn 10 năm qua, cả nước có sự bứt phá về số lượng bài báo trên các tạp chí khoa học có uy tín (là những tạp chí nằm trong các danh mục ISI, Scopus) của các đơn vị có địa chỉ từ Việt Nam.

Đóng góp chủ yếu vào sự tăng trưởng này gồm nhiều viện, đại học (ĐH) và một số trường ĐH Việt Nam. Riêng Trường ĐH Tôn Đức Thắng không chỉ vượt lên dẫn đầu cả nước về công bố quốc tế mà số lượng công bố còn gấp đôi đơn vị thứ 2 (là Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam, nơi tập trung mật độ cao các nhà khoa học hàng đầu Việt Nam).

Tiếp tục đọc “Chiêu trò để trường đại học được xếp hạng quốc tế”

Đại tướng Võ Nguyên Giáp ‘vắng mặt’ trong sách giáo khoa – 2 kỳ

Đại tướng Võ Nguyên Giáp ‘vắng mặt’ trong sách giáo khoa – Kỳ 1: Sách giáo khoa ‘bỏ quên’ Đại tướng!

TN – 08:00 – 21/10/2013   

Sự ra đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp để lại sự xúc động mạnh mẽ đối với hàng triệu đồng bào. Các học sinh, sinh viên, thanh niên, thiếu nhi đã dành những tình cảm thiêng liêng đối với Đại tướng. Với họ, ông không chỉ là một vị tướng tài mà còn là một tấm gương về lòng yêu nước, sự giản dị và đức hi sinh. Ông chính là những bài học lịch sử gần gũi và sinh động nhất.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp ‘vắng mặt’ trong sách giáo khoa - Kỳ 1: Sách giáo khoa ‘bỏ quên’ Đại tướng! - ảnh 1

Điều đáng ngạc nhiên là nhân vật lịch sử rất đặc biệt này lại không hề có mặt trong các sách giáo khoa (SGK) Lịch sử ở phổ thông. “Lỗ hổng” ấy, xuất phát từ nhiều nguyên nhân lịch sử, cho thấy một lối biên soạn SGK có nhiều khiếm khuyết và đấy chính là một trong những nguyên nhân khiến học sinh không hứng thú với các bài học lịch sử.

Cuộc kháng chiến chống Pháp, với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, rồi tới kháng chiến chống Mỹ kết thúc bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đều hiện diện trong SGK. Nhưng tại sao tên tuổi, cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng tư lệnh quân đội đã có những đóng góp quan trọng trong các chuỗi sự kiện lịch sử ấy, lại hoàn toàn vắng bóng?

Tiếp tục đọc “Đại tướng Võ Nguyên Giáp ‘vắng mặt’ trong sách giáo khoa – 2 kỳ”

Ngành Y – Dược: Điểm thi chót vót vẫn không cách nào sánh nổi thế giới

VNN – 16/08/2015    02:00 GMT+7

Nguyễn Công Nghĩa – Tiến sĩ, Bác sĩ, Đại học Waterloo, Ontario, Canada

 Tấm bằng y dược của Việt Nam không được công nhận trên thế giới, ngoài một số quốc gia châu Phi và bán đảo Ả rập trước đây

Nguyễn Công Nghĩa - Điểm thi chót vót vẫn không cách nào sánh nổi thế giới  | Dân Luận
Ước mơ trở thành bác sĩ hay dược sĩ là một mô hình quen thuộc. Ảnh minh họa

Với sự thay đổi bước ngoặt lịch sử của Bộ Giáo dục & Đào tạo, điểm đầu vào xét tuyển ĐH (nguyện vọng 01) năm nay đang tập trung sự thu hút của toàn xã hội. Không ngoài dự đoán đã thành thông lệ từ nhiều năm, điểm đầu vào ngành y dược sẽ vẫn cao chót vót, và năm nay lại có khả năng sẽ cao hơn nữa. Bên cạnh những thí sinh tuyển thẳng, cử tuyển, hoặc được điểm cộng ưu tiên, nhiều tranh cãi là các thí sinh đạt điểm cao nhưng tâm lý vẫn… rối bời. 

Thí sinh đạt điểm 27 xét tuyển ngành Bác sĩ đa khoa, 25 điểm xét tuyển ngành Dược sĩ đều không có gì bảo đảm sẽ đậu ĐH tại các trường như ĐH Y, ĐH Dược (Hà Nội), hay ĐH Y- Dược TP. HCM. Thực tế nào đã khiến các ngành này thu hút các thí sinh điểm cao đến vậy? Và như vậy thì có gì hay cho họ và xã hội? 

Bác sĩ và dược sĩ luôn được coi là những nghề dễ tìm được việc làm (?), có thể sống bằng nghề mà không quá phụ thuộc vào chế độ XH. Những nghề này lại có tuổi nghề cao, có thể tiếp tục làm việc thêm hàng chục năm sau khi đã nghỉ hưu. Nếu ra trường chưa có việc làm trong cơ quan nhà nước thì việc tìm một chỗ trong các đơn vị tư nhân hay công ty kinh doanh dược là điều không quá khó. Gia đình nội ngoại của tôi có truyền thống học y cũng phần nhiều bởi tư duy của ông ngoại: “Bác sĩ (BS) còn gọi là cái bát sắt, đi đâu cũng có cơm ăn”. 

Ngành nghề này cũng được mặc định có thứ hạng khá cao, dễ có thiện cảm và được tôn trọng nhất định trong xã hội Việt nặng tư tưởng Nho giáo, nhất là với tư duy đại ngôn theo kiểu “cống hiến”, “hành nghề giúp đời”. Chữ “giúp” ở đây còn bao hàm cả nghĩa hẹp như là chỗ dựa trong một phạm vi gia đình hay dòng tộc khi có một người theo ngành Y, nhiều khi chỉ đơn giản là cần có một niềm tin. Ước mơ trở thành bác sĩ hay dược sĩ là một mô hình quen thuộc theo kiểu gia truyền, hay “con nhà nghèo học giỏi”. Những ước mơ thực của đứa trẻ có thể đã không được lộ diện bởi sự định hướng nghề nghiệp cảm tính và sơ khai ở các gia đình Việt Nam khi con em họ còn học phổ thông. 

Không có gì bàn cãi rằng các thí sinh điểm cao đến vậy chắc chắn là học giỏi. Tuy vậy các sinh viên y dược tương lai cần phải cân nhắc rất nhiều. Trước hết, đào tạo y dược ở Việt Nam là không tương đồng với thời lượng đào tạo và chất lượng của thế giới. Bằng cấp BS đa khoa hay dược sĩ tại các nước Bắc Mỹ, châu Âu hay Úc là bằng sau ĐH chuyên nghiệp, cực cấp (không cần bằng cấp gì thêm để hành nghề trong đời) đều đòi hỏi tới 10-11 năm trong đó 04 năm đầu dành cho khoa học cơ sở. Đào tạo BS y khoa trong 06 năm, và dược sĩ trong 05 năm ở Việt Nam thực chất chỉ mang những tiêu chuẩn của cử nhân.  

Do vậy ngành Y ở Việt Nam lại có thêm sau này các bằng chuyên khoa định hướng, chuyên khoa 01, chuyên khoa 02, hoặc thạc sĩ, tiến sĩ, mà không thể so sánh cách nào với thế giới. Chính vì thế, tấm bằng y dược của Việt Nam không được công nhận trên thế giới, ngoài một số quốc gia châu Phi và bán đảo Ả rập trước đây. Nó khiến cho triển vọng cọ xát nghề nghiệp với bên ngoài bị thu hẹp và những người hành nghề y dược Việt Nam phần lớn đóng cửa chơi trên sân nhà của riêng mình. 

Tiếp theo, đào tạo y dược nói chung có hàm lượng sáng tạo thấp, ở Việt Nam thì lại càng gần như không. Các điểm thi Toán, Hóa ở đỉnh cao của đầu vào, cũng chẳng giúp ích gì nhiều lắm khi các môn học trong trường Y và Dược ở Việt Nam gần như tuyệt đối là học thuộc lòng, và yêu cầu sự kiên nhẫn. Các môn học cơ bản, hay cả các môn học thực hành, thậm chí lâm sàng tại bệnh viện đều vậy.  

Lối tư duy sáng tạo tại các trường Y- Dược gần như không có đất sống. Chương trình đào tạo với nhiều môn không liên quan, giáo trình đào tạo cũ kỹ thậm chí từ những năm 80 thế kỷ trước, máy móc thiết bị cho phòng lab thực hành tiền lâm sàng quá thô sơ và thiếu thốn ngay tại các trường hàng đầu. Câu chuyện của những con mọt thư viện, giảng đường, bóng ma ký túc xá nằm đọc sách đến in hằn vết của đầu, mông hay gót chân trên chiếu sau 06 năm học không hề hiếm.  

Nhưng học cũng là một chuyện khác trong khi thực hành sau khi ra trường lại dựa chính trên các kinh nghiệm theo kiểu truyền dạy. Thực hành Tây y, kể cả phẫu thuật cũng không khác nhiều lắm với tư tưởng “Đông y gia truyền” ngàn đời. 

Tính đào thải trong quá trình học ĐH Y- Dược Việt Nam cũng thấp y như mọi ngành học khác, có nghĩa là gần như vào được trường thì khắc ra trường và có bằng cấp, trong khi tỷ lệ đào thải tích lũy khi học bác sĩ tại các quốc gia phát triển lên tới 50%. Kết quả học tương đối như nhau thôi, nhưng sự phân hóa sau khi ra trường lại là rất lớn. Rất nhiều người sẽ không thực hành y dược mà làm trình dược viên cho các hãng thuốc, hãng sữa, thực phẩm chức năng. Rất nhiều người khác lại lựa chọn công việc bàn giấy tại bộ, các sở, hay các trung tâm với công việc chẳng ăn nhập mấy với những gì đã học.  

Với những người thực hành lâm sàng, các chuyên ngành nóng như Sản, Ngoại, Nhi, Mắt luôn đầy ắp người xếp hàng, nhưng các ngành Tâm thần, Truyền nhiễm, Lao, HIV/AIDS, Giải phẫu bệnh thì tìm người mỏi mắt. Bác sĩ, dược sĩ mới ra trường đổ dồn về các bệnh viện tỉnh và trung ương, nơi thu nhập tương đối và điều kiện thăng tiến về nghề nghiệp, trong khi một số nhận thiệt thòi về tuyến xã hay huyện ở các vùng sâu vùng xa. 

Tất cả sự phân hóa nhìn thấy rõ nét chỉ sau 05 năm sau khi ra trường, mà nguyên nhân không hẳn do năng lực. Và còn muôn vàn các biến đổi khác tạo nên bởi quan hệ, tiền tệ và hậu duệ. 

Các sinh viên tương lai của các trường Y- Dược có lẽ cũng cần hỏi mình có hứng thú và ham thích thực sự với ngành này và cân nhắc mình có đủ sự kiên nhẫn hay không. Cần nhận thức cụ thể hơn để sau này khỏi phải nói câu “biết thế thì…”, có khi chỉ bởi cố gắng sống ước mơ của cha mẹ, họ hàng, bởi không tính đến các đam mê, sở trường, hay năng lực sáng tạo của riêng mình hay bởi “mình điểm cao thì nên vào y dược”. Xã hội có thể có thêm một bác sĩ hay dược sĩ, nhưng cũng có thể mất đi một bộ óc sáng tạo cho những ngành khoa học khác. 

Thực tế tại Mỹ và Canada, nơi tôi sống và làm việc nhiều năm, tư duy cố gắng cho con học Y- Dược vẫn tồn tại trong cộng đồng châu Á, nhất là Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam.  Trong khi với người sở tại, nó chẳng có ‎ nghĩa gì so với ước mơ thực của đứa trẻ. 

Nguyễn Công Nghĩa (TS, BS-  ĐH Waterloo, Ontario, Canada)

Self-sustaining school aids ethnic minority students

VNN – Update: October, 03/2021 – 10:51| Bảo Ngọc

The idea of Từ Thanh Phương, principal of the Phương Độ Secondary School in Hà Giang Province, for a self-sustaining school has helped hundreds of poor ethnic students continue to fulfill their dream getting an education.

Ethnic students prepare their own meals every day. — Photo courtesy of hagiangtv.vn

Phương Độ is a suburban secondary school about 4km from Hà Giang city centre, with 200 students, mainly ethnic minority children in highland communes living in extremely difficult conditions.

Due to dangerous terrains and lack of transportation, many students have to get up at 3 or 4am to walk to school.

Tiếp tục đọc “Self-sustaining school aids ethnic minority students”

Thực trạng đào tạo Luật sư ở Việt Nam và Mỹ?

HILAP – Đỗ Chinh

Điều kiện để trở thành luật sư

Đào tạo Luật sư ở Mỹ

Về đầu vào: việc đào tạo luật ở Mỹ là đào tạo sau đại học, sinh viên luật là những người đã tốt nghiệp đại học – có bằng cử nhân một môn khoa học bất kì. Các khoa luật ở Mỹ tuyển sinh viên đầu vào rất khắt khe, thường lựa chọn những sinh viên thật sự xuất sắc. Những người trúng tuyển sẽ theo học 3 năm tại khoa luật để lấy bằng J.D – ( jurist doctor ) – văn bằng luật cơ bản ở Mỹ. Độ tuổi trung bình cho sinh viên khoa luật tốt nghiệp ở Mỹ là 29, độ tuổi cho con người hoàn thiện về nhân cách và giữ vững lập trường lời nói và hành động.

Tiếp tục đọc “Thực trạng đào tạo Luật sư ở Việt Nam và Mỹ?”

Chỉ 30% cử nhân công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp

TP – 15/06/2021 | 06:31

Gần 1/3 sinh viên ngành CNTT ra trường đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng (ảnh chụp trước 22/4). Ảnh: Như Ý
Gần 1/3 sinh viên ngành CNTT ra trường đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng (ảnh chụp trước 22/4). Ảnh: Như Ý

Một báo cáo về thị trường công nghệ thông tin Việt Nam năm 2021 cho thấy, 70% sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp về kỹ năng, chuyên môn.

Theo báo cáo thị trường công nghệ thông tin Việt Nam 2021 của TopDev, một trong những công ty hàng đầu về tuyển dụng ngành công nghệ thông tin (CNTT), trong số hơn 55.000 sinh viên CNTT tốt nghiệp mỗi năm, chỉ có khoảng 16.500 sinh viên (30%) đáp ứng được những kỹ năng và chuyên môn mà doanh nghiệp cần.

Có tới 61,5% số chuyên gia nhân sự tham gia khảo sát nói rằng, khó khăn lớn nhất khi phụ trách tuyển dụng trong lĩnh vực CNTT là tìm kiếm ứng viên có năng lực; tiếp theo là hiểu yêu cầu tuyển dụng các vị trí của ngành… Điều này dẫn đến tình trạng thiếu nguồn nhân lực CNTT dù số lượng đào tạo hằng năm của Việt Nam khá cao.

Tiếp tục đọc “Chỉ 30% cử nhân công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp”

Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 NXB Giáo dục: Kết nối sai lệch với cuộc sống?

05/09/2021 21:56

(LSVN) – Trong khi dư luận vẫn đang xôn xao với việc lựa chọn bài thơ “Bắt nạt” của Nguyễn Thế Hoàng Linh và những “hạt sạn” đáng tiếc ở sách Ngữ văn lớp 6, thì sách giáo khoa (SGK) Tiếng Việt lớp 2 bộ Kết nối tri thức với cuộc sống (Tổng chủ biên: PGS. TS. Bùi Mạnh Hùng) đã không thể hiện được triết lý giáo dục của bộ sách. Bởi lẽ, tính khoa học, giáo dục của sách chưa cao.

Dạy học sinh cứ thấy vàng là lấy?

Tiếp tục đọc “Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 NXB Giáo dục: Kết nối sai lệch với cuộc sống?”

Hơn 1,5 triệu học sinh thiếu thiết bị học trực tuyến

DV – Diệu Thu Thứ hai, ngày 13/09/2021 08:07 AM (GMT+7)

Hiện nay, cả nước có gần 20 triệu học sinh phổ thông, trong đó có trên 7.350.000 học sinh, thuộc 26/63 tỉnh thành trong cả nước đang triển khai học trực tuyến.

Phát động toàn quốc Chương trình “Sóng và máy tính cho em”

Tối 12/9, Lễ phát động Chương trình “Sóng và máy tính cho em” được tổ chức theo hình thức trực tuyến tại 65 điểm cầu. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì tại điểm cầu Văn phòng Chính phủ.

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Kim Sơn. (Ảnh: Thế Đại).

Tiếp tục đọc “Hơn 1,5 triệu học sinh thiếu thiết bị học trực tuyến”

What’s behind the decision to close Yale-NUS College?(Singapore’s first liberal-arts college)

NUS said the best elements of Yale-NUS and its own University Scholars Programme will form the basis of a yet-to-be-named new college.NUS said the best elements of Yale-NUS and its own University Scholars Programme will form the basis of a yet-to-be-named new college.ST PHOTO: CHONG JUN LIANG

straitstimes.com

Sandra DavieAng Qing and Ng Wei Kai PUBLISHEDSEP 5, 2021, 5:00 AM SGT

SINGAPORE – More than a week since the shock announcement that Yale-NUS College will close its doors in 2025, students and alumni are still wondering if they will get a more detailed explanation of the decision.

Tiếp tục đọc “What’s behind the decision to close Yale-NUS College?(Singapore’s first liberal-arts college)”