Cambodia’s central bank has reportedly revoked the banking license of a conglomerate accused of illicit online activities. But doubts abound about Phnom Penh’s commitment to taking action against cyberfraud networks.
Southeast Asia’s vast cyber scam industry exploded during the COVID-19 pandemic when many of the region’s illegal casino operators turned to online fraudImage: allOver-MEV/IMAGO
The banking arm of a Cambodia-based conglomerate accused of running the world’s “largest ever illicit online marketplace” has had its banking license revoked by the Cambodia’s central bank, Radio Free Asia reported last week.
Huione Guarantee, the Telegram marketplace of Huione Group, has reportedly processed up to €22 billion ($24 billion) in illicit transactions since 2021, making it by far the world’s largest illegal online marketplace, cryptocurrency compliance firm Elliptic reported last year.
Huione Pay, the group’s banking arm, had its license withdrawn because of noncompliance with “existing regulations and recommendations that may have been made by the regulators,” a National Bank of Cambodia spokesperson told Radio Free Asia, a US Congress-funded media outlet.
Through training held in Phnom Penh, UNODC is helping to build a more robust response to cybercrime in Cambodia.
All the screens in the room, including the one projected on the wall, have turned black, and a series of green letters have started to rain down. “Your wallet has been stolen,” one of the trainers says. All participants —some in uniform, others in suits— start scrolling down, looking for the fictitious cybercriminal.
The mix of Cambodian cybercops, law enforcement officials and judges in the room each have a laptop, and each have a task at hand: to seize the cryptocurrencies before it’s too late. If they collect and manage the digital evidence, they have succeeded, because that evidence can be later presented to the court. On their screens, what they are seeing is a simulation of a cyber-enabled fraud case involving cryptocurrencies in which criminals operate nowadays.
Để thực hiện mục tiêu chiến lược phân bố dân số phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội đất nước và củng cố quốc phòng, ngay từ những năm 1960 của thế kỷ trước, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm phân bố lại dân cư và lao động trong cả nước bằng những chính sách cụ thể như: chính sách vận động nhân dân đi xây dựng kinh tế mới, chính sách định canh định cư ổn định di dân tự do, chính sách di dân ổn định biên giới… Gần đây nhất là các chính sách di dân để phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mục tiêu dân sinh trên một số địa bàn miền núi, vùng sâu, biên giới, để vừa đảm bảo cho khai hoang phát triển kinh tế, vừa đảm bảo mục tiêu quốc phòng, an ninh. Đánh giá tình hình thực hiện các chính sách di dân của Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, đã có một số công trình nghiên cứu, các ấn phẩm, bài viết về thực hiện chính sách di dân.
Các nghiên cứu về chính sách di dân
1. Các nghiên cứu về tình hình thực hiện chính sách di dân xây dựng kinh tế mới, di dân định canh định cư, di dân ổn định biên giới. Một trong những nghiên cứu đề cập khá toàn diện đến chính sách di dân là công trình của Đặng Nguyên Anh về Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội ở các tỉnh miền núi [1]. Trong nghiên cứu này, tác giả đã đi sâu tìm hiểu các loại hình di dân nổi bật ở miền núi trong những năm 1990, bao gồm di dân kinh tế mới, định canh, định cư di dân tự do và di dân ổn định biên giới, chỉ ra thực chất của các loại hình di dân này là loại hình di dân nông thôn – nông thôn. Đặc biệt là nghiên cứu đã đánh giá tổng quan về các chính sách di dân trên ba loại hình, phân tích những mặt được và chưa được trong chủ trương chính sách đối với các loại hình di dân nêu trên. Nhấn mạnh mặt được lớn nhất của chính sách di dân là phân bố lại lao động – dân cư, giãn dân đến những vùng vắng dân, thưa dân, vùng còn nhiều tài nguyên đất để phát triển kinh tế, đảm bảo quốc phòng, an ninh, biên giới. Đồng thời chỉ ra mặt hạn chế của chính sách là nhiều quy định của chính sách đã bộc lộ sự bất cập, ít khả thi như chính sách di dân kinh tế mới với quy mô đầu tư dàn trải, thiếu đồng bộ, mang tính bình quân và chưa tính đến những đặc trưng riêng của từng vùng. Công tác định canh định cư mặc dù được lồng ghép trong các chính sách hỗ trợ cho miền núi song chưa đem lại hiệu quả như mong muốn, chưa góp phần ổn định đời sống của đồng bào tộc người thiểu số ở các tỉnh miền núi.
Quá trình đánh giá thực trạng, kiểm định hiệu quả của các chính sách di dân đối với các loại hình di dân, tác giả đã đi sâu phân tích, đánh giá đặc điểm chủ yếu của các cộng đồng di dân, dựa trên kết quả khảo sát mẫu của đề tài với 7 tỉnh tại miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Kết quả cho thấy, người di cư có cuộc sống tương đối ổn định và có mục đích di cư lâu dài, ổn định cuộc sống. Tuy có sự khác nhau giữa các địa phương trong nội dung các chính sách di dân và định hướng phát triển kinh tế – xã hội, song mức độ hiểu biết về chính sách của người dân địa phương và nhận thức của cán bộ quản lý còn nhiều hạn chế. Khả năng tiếp cận được các chính sách hiện hành phụ thuộc rất nhiều vào công tác thông tin, tuyên truyền và sự triển khai thực hiện đến người dân bằng các lợi ích cụ thể, dù dưới loại hình di dân nào. Vì vậy, việc xây dựng và thực hiện một hệ thống chính sách đồng bộ và hiệu quả, phù hợp với tình hình di dân và điều kiện phát triển kinh tế – xã hội ở các tỉnh miền núi hiện nay là rất cần thiết.
TT – Ngày càng nhiều phòng khám, bệnh viện quảng cáo rầm rộ các gói tầm soát ung thư, đột quỵ với xét nghiệm, chụp chiếu. Không ít người hiểu lầm việc tầm soát này là cần thiết, gây tốn kém nhưng hiệu quả là dấu chấm hỏi.
Nhân viên y tế chụp PET/CT cho bệnh nhân – Ảnh: DUYÊN PHAN
Dù không có yếu tố nguy cơ (độ tuổi, di truyền, lối sống…), người dân đi tư vấn tầm soát ung thư vẫn được một số phòng khám chỉ định thực hiện các xét nghiệm, thậm chí chụp CT, MRI…
Ngoài ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, đặc điểm địa lý thì tình trạng mưa lũ ở nước ta trở nên nghiêm trọng hơn phần lớn là do vấn nạn chặt, phá rừng đầu nguồn để khai thác gỗ, phát triển nông nghiệp, thủy điện… Chính điều này gây ra sự suy giảm thảm thực vật ở lưu vực, khả năng cản trở dòng chảy khi mưa lũ giảm, khiến tốc độ di chuyển của mưa lũ nhanh hơn.
Rừng tự nhiên ở xã Phổ Cường (TX.Đức Phổ, Quảng Ngãi) bị chặt phá để trồng keo và bạch đàn. Những chu kỳ từ 4 – 5 năm với việc phát dọn – đốt trụi – trồng mới – khai thác cứ thế tiếp diễn khiến rừng bị ‘tổn thương’ nghiêm trọng.
Nước lũ vào nhà
Bão số 6 (Trà Mi) đã tan nhưng người dân Phổ Cường vẫn còn lo lắng bởi chưa hết mùa mưa. Họ lo mưa lớn nước lũ tràn vào nhà gây nhiều thiệt hại. Trong tâm trí của họ vẫn còn ám ảnh đêm mưa vào tiết cuối thu 4 năm trước. Đêm đó, mưa như trút nước. Nửa đêm, nước tràn vào nhà khiến chị Nguyễn Thị Tươi và người thân phải kê cao đồ đạc bởi nền nhà bị ngập sâu hơn 20 cm.
“Mấy đợt trước, nước chỉ ngập ngoài sân rồi vô nhà bếp. Đêm đó ngập cả nhà trên lẫn nhà dưới luôn. Nước ngập là do mưa lớn, rừng phía sau nhà không còn giữ nước như xưa và cả việc làm đường nữa. Tuyến đường trước nhà (đường liên xã từ thôn Mỹ Trang, xã Phổ Cường đi thôn Vĩnh An, xã Phổ Khánh, TX.Đức Phổ) như đê ngăn nước nên rất nhiều nhà bị ngập”, chị Tươi cho biết.
Không có sông suối nhưng nhà của người dân ở thôn Mỹ Trang vẫn bị ngập
Từ đầu năm 2025 tới nay, tình trạng phá rừng ở Đắk Nông diễn biến phức tạp với số vụ tăng cao ở nhiều đơn vị, địa phương.
Theo UBND tỉnh Đắk Nông, từ đầu năm tới nay, tình trạng phá rừng tại địa bàn một số huyện có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp.
Tại huyện Đắk Glong, trong 2 tháng đầu năm đã xảy ra 23 vụ phá rừng làm thiệt hại hơn 4,1ha. Diện tích rừng bị thiệt hại chiếm gần 49% toàn tỉnh và tăng 31% so với cùng kỳ năm 2024.
Địa bàn huyện Đắk Song xảy ra 12 vụ phá rừng làm thiệt hại hơn 2,1ha trong thời gian đầu năm. Diện tích thiệt hại chiếm hơn 25% và tăng hơn 82% so với cùng kỳ năm 2024.
Tình trạng phá rừng diễn biến rất phức tạp và tăng cao tại lâm phần quản lý của các công ty lâm nghiệp. Phá rừng đồng loạt tăng tại lâm phần của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Sơn (tăng gần 75% so với cùng kỳ), Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa (tăng gần 199% so với cùng kỳ)…
Trong hai tháng đầu năm 2025, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 64% so với cùng kỳ năm 2024, với tổng diện tích 145,4 ha. Ngoài thiệt hại do cháy thì tình trạng chặt phá rừng cũng gia tăng mạnh, với mức tăng lên đến 43% so với cùng kỳ năm trước.
Báo cáo kinh tế – xã hội tháng 2 và 2 tháng đầu năm 2025 của Cục thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng 2/2025 là 73,1 ha, tăng 34,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Diện tích rừng bị cháy là 17,1 ha, gấp 39,7 lần tập trung ở Cao Bằng 10,0 ha, Bắc Kạn 3,8 ha, Lai Châu 2,0 ha; diện tích rừng bị chặt, phá là 56,0 ha, tăng 4,0%.
Diện tích rừng bị thiệt hại tăng mạnh (Ảnh minh hoạ).
Tính chung hai tháng đầu năm 2025, diện tích rừng bị thiệt hại là 145,4 ha, tăng 64,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 19,4 ha, gấp 27 lần; diện tích rừng bị chặt, phá là 126,0 ha, tăng 43,3%.
mekongeye.com Produced in partnership with the Putlizer Center
Long-term intensive chemical use in Laos’ banana farms has degraded the country’s once-fertile soil, and it may take nearly half a century to restore it.
Laos’ fertile soil and its proximity to China have created ideal conditions for banana cultivation to meet the surging demand from Chinese consumers.
This fruit frenzy has attracted Chinese companies to seek farmland in Laos, a landlocked country that has embraced a “green agriculture” approach to combat poverty.
With government approval, the sector has expanded, offering jobs, infrastructure development, and revenue from land once considered undervalued.
However, an investigation by Mekong Eye and the Rainforest Investigations Network (RIN) reveals that the fruit plantation boom has left a legacy of soil degradation and uncertain livelihoods for many local farmers.
OUDOMXAY & BOKEO, LAOS – Northern Laos is experiencing soil degradation after years of monocropping and widespread chemical use on banana farms operated by Chinese entrepreneurs.
Thiep doesn’t remember the name of the Chinese fruit company that leased his family’s land, only that it was one of the first to arrive in his northern Lao village in 2007.
After a decade of monocropping bananas, the company left and then returned the land to his family. But in the interim, the earth had changed in ways Thiep and his household couldn’t have anticipated.
“The soil is unusually hard and dry, not like it used to be. We had to replace the plow with a stronger one just to break the ground,” Thiep recalled.
His family members invested extra effort into its first rice crop after reclaiming the plotland. That year, they enjoyed a bumper harvest that was more than they had before the arrival of the Chinese company. But it was the last time they saw such abundance.
“The yield kept decreasing after that,” Thiep said, planting seedlings in the flooded paddy. “Before we leased it out, this plot produced 60 bags of rice. Now it’s down to 30, not enough for the family to eat.”
Nearly two decades ago, Chinese entrepreneurs, attracted by geographic proximity, blanketed northern Laos with banana plantations.
Exporting bananas to China quickly became an economic mainstay, replacing the long reliance on subsistence rice farming. The plantations not only created local jobs but also increased income for households leasing their land to companies.
But investment capital is bittersweet: it may have provided the region with a ladder out of the depths of poverty, but it has ushered in new perils.
Some local workers have reportedly fallen ill or died after pesticide spraying on farms.
Young Hmong workers rest after long hours of labor on a banana plantation in Oudomxay province, northern Laos. Many, including children under 15, face direct exposure to hazardous agricultural chemicals used in the plantations.
A 2017 study, conducted with the Lao government’s involvement, found that agricultural chemicals – used intensively and without consistent management on banana plantations – had poisoned rivers and soil, and harmed the health of residents and plantation workers.
Among the chemicals identified were paraquat – a highly toxic herbicide banned in several countries, including Laos and China – and chlorothalonil, a hazardous substance banned in the EU in 2020 due to its potential to pollute groundwater and cause cancer.
Facing the issue, an official from the Ministry of Industry and Commerce verbally stated in early 2017 that the Prime Minister’s Office had ordered a ban on all commercial banana cultivation, according to the Laos News Agency. However, our reporter was unable to find any official orders on public platforms dating back to 2016.
Tàu Vịnh Xanh được thiết kế cao hơn quy chuẩn, nhưng không có thiết bị phát tín hiệu cấp cứu tự động, cơ quan giám sát không sớm phát hiện khi tàu bị ngắt GPS.
Tàu Vịnh Xanh 58 chở 46 hành khách và 3 thuyền viên rời bến cảng Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh lúc 12h55 ngày 19/7, đến 13h30 khi gần hang Đầu Gỗ thì bị giông gió xô lật úp, tất cả người trên tàu rơi xuống biển. Đến 14h05, tàu mất kết nối GPS. Vị trí tàu lật cách bến Tuần Châu hơn một km, cách đất liền ba km.
Tại cuộc họp chiều 20/7, đại tá Hoàng Văn Thuyết, Chính ủy Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh, cho biết 15h30 đơn vị tiếp nhận tin báo tai nạn đầu tiên, tức sau hai tiếng xảy ra sự cố và sau 10 phút đã triển khai tàu cứu hộ tới hiện trường. Lý do cứu hộ cứu nạn chậm, theo đại tá Thuyết là sau khi tàu lật, trời xuất hiện mưa đá, giông gió tiếp tục đến khoảng 15h nên thông tin tai nạn được báo chậm.
A warning to our viewers – the images in this report are deeply disturbing.
Israel’s ongoing blockade on Gaza has led to an alarming rise in the number of people who have been starved to death. Gaza’s health ministry says 19 Palestinians have died of hunger in 24 hours.
The UN says it’s receiving ‘desperate messages of starvation’ while aid is stockpiled just outside and remains blocked.
Columbia Climate School identifies 65 ‘Red Zone’ nations across four separate climate scenarios.
43 nations in Sub-Saharan Africa, eight in Latin America and the Caribbean, six in Asia-Pacific, six in the Middle East, and two in Europe are most at-risk.
With support from The Rockefeller Foundation, the “Climate Finance Vulnerability Index” aims to help close the gap between risk assessments and funding allocations.
El Hierro, hòn đảo nhỏ trong quần đảo Canary của Tây Ban Nha, ghi dấu ấn lịch sử vào hè năm ngoái khi sử dụng toàn bộ nguồn năng lượng điện tái tạo trong 28 ngày liên tục.
El Hierro hiện là hòn đảo duy nhất trên thế giới đạt được kỳ tích như vậy. Theo báo cáo, hòn đảo 1,1 triệu năm tuổi này đang trên con đường đạt được khả năng tự cung tự cấp 100% năng lượng sạch nhờ vào gió và nước.
Nhà máy thủy điện Gorona del Viento là nguồn điện chính trên đảo, cung cấp năng lượng cho khoảng 11.000 cư dân. Nhà máy tận dụng địa hình của hòn đảo, kết hợp với những hồ nước ở những độ cao khác nhau tạo ra thủy điện và năng lượng gió từ ngoài khơi Đại Tây Dương.
Nhà máy điện hoạt động bằng cách khai thác năng lượng từ các tua-bin gió công nghiệp, được xây dựng trên sườn đồi. Vào những ngày gió lớn, công suất dư thừa từ trang trại gió 11,5 megawatt (MW), giúp bơm nước ngọt từ một hồ chứa nhỏ gần bến cảng của hòn đảo đến một lưu vực lớn hơn tại một miệng núi lửa cao khoảng 700m so với mực nước biển.
#CNAInsider We chart the evolution of nuclear power, from the first controlled chain reaction to today’s small, micro modular reactors and the pursuit of fusion. New designs are being tailored to meet the energy needs of remote communities, AI infrastructure, and climate-conscious cities.
The episode highlights how nuclear power is being adapted to local contexts, featuring China’s pebble-bed reactor, Finland’s underground district heating plant, and Indonesia’s floating nuclear concept. It also examines Westinghouse’s portable microreactor and the fusion research underway at ITER in France and KSTAR in South Korea. Engineers, scientists, and policy experts weigh in on how nuclear energy is being reimagined to deliver clean, reliable power in a rapidly changing world.
Indonesia’s Floating Nuclear Power Plant Plan To Power Thousands Of Its Islands
How Small Nuclear Reactors Are Transforming Power Grids In China & Finland