Ngày xửa ngày xưa, dưới hạ giới mới chỉ có một chàng trai khôi ngô tuấn tú tên là An Đam và một cô gái xinh đẹp nết na tên là Ên Va. Họ sống vui vẻ trong một khu vườn rộng lớn vô cùng đẹp đẽ do Ngọc Hoàng Thượng Đế dựng nên. Vì rất nghe lời Thượng Đế nên họ sống hạnh phúc, chẳng lo lắng, muộn phiền bao giờ. Tiếp tục đọc “Giên Su*”→
Dường như trong tất cả những chuyến xe đường trường, người ta dễ trở nên gần gũi và thông cảm với bạn đồng hành qua những câu hỏi han, những lời trò chuyện, những điều vô tình nghe lỏm được… Nhờ thế, những gian khổ dọc đường có vẻ trở nên dễ chịu hơn một ít, nỗi sốt ruột sau cả ngày đường với những cảnh vật đơn điệu lặp đi lặp lại cũng bớt đi. Tiếp tục đọc “Ảo ảnh đường trường”→
Đình Minh Hương Gia Thạnh, số 380 đường Trần Hưng Đạo, phường 11, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh.
Trong lịch sử khẩn hoang ở Nam bộ, sự đóng góp của người Minh Hương và Hoa từ xưa đến nay về kinh tế, văn hóa thật là to lớn. Bao nhiêu danh nhân Việt nam trong lịch sử là có gốc Minh Hương, từ Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh Giản, Phan Xích Long.. đến những nhân vật có tên tuổi trong văn hóa nghệ thuật gần đây như Hồ Dzếnh, Trịnh Công Sơn, Vương Hồng Sển, Lý Lan… Họ đã hòa nhập thành người Việt. Đã có nhiều tư liệu viết về Mạc Cửu và xứ Hà Tiên, với văn học Hà Tiên độc đáo, đỉnh cao của người Minh Hương đến khai khẩn Nam bộ. Ở đây tôi sẽ chú trọng về người Minh Hương và Hoa ở những vùng khác trên Nam bộ, chủ yếu là vùng Đồng Nai-Gia Định. Tiếp tục đọc “Về lịch sử người Minh Hương và người Hoa ở Nam bộ”→
Tranh minh họa của nữ họa sĩ Nguyễn Lý Phương Ngọc
Đầu tiên là triệu chứng khó thở kéo dài nhiều giờ. Đó là điều khó hiểu với một người không phải là cuờng tráng song sức khỏe có thể được gọi là sung mãn như ông. Bác sĩ riêng đã loại trừ ngay cái bệnh buộc phải lập tức i-zô-lê ( biệt lập), hoành hành bởi con vi trùng mang tên một nhà bác học Đức. Nơi ông ở cũng chưa đến nỗi phải suốt ngày đeo mõm chó cả khi ra đường lẫn ở trong nhà như thành phố Bác Ki nọ mù mịt bụi khói gần đây mà ông thường thấy trên phim, ảnh. Tiếp tục đọc “Bản di chúc bi thảm”→
Vào giờ tan sở chiều, đường Nguyễn Thái Sơn thường đông nghẹt xe cộ đổ về hướng chợ Gò Vấp. Vậy mà ở gần một cây xăng, nhiều lúc lại thấy một cậu thanh niên ăn mặc rách rưới, cứ quì dưới lòng đường, ú ớ mời thiên hạ mua vé số, mặc cho những chiếc xe hai bánh phải lách tránh hay lướt sát bên cạnh cậu ta. Thỉnh thoảng cũng có người dừng xe lại bên anh chàng đang làm trò nguy hiểm này để mua nhanh một, hai tấm. Tiếp tục đọc “Chợt Nhìn Thấy Trên Đường Phố…”→
Tôi muốn viết những vần thơ tươi xanh Nhưng nóng viết những vần thơ lửa cháy*
Đất và biển đang ròng ròng máu chảy
Lũ bất lương hãm hại triệu dân lành !
Dễ gần một năm nay, hầu như lần nào cũng vậy, cứ thấy hắn về tới cổng, chàng thanh niên hàng xóm lại vội nhảy ra vồn vã, hồn nhiên:
– Anh ơi, đã xin được việc cho em chưa?
Hắn chỉ biết gượng nở nụ cười chó thui để khỏi dội nước lạnh vào hy vọng của thằng bé. Gọi là thằng bé thì quả quá đáng, vì cậu ta cũng hơn 30 tuổi, có điều tâm trí ngây thơ như một đứa trẻ mười hai chốn quê rừng. Cậu ta sống trong ngôi nhà 3 tầng chỉ có hai bố con. Tiếp tục đọc “Ám ảnh gia truyền”→
Nhân kỷ niệm 60 năm phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm
Mai An Nguyễn Anh Tuấn
Thi sĩ – Dịch giả Trần Dần
Có một lời đề từ trong một cuốn sách dịch cứ đóng xích trong tâm tư tôi suốt mấy chục năm ròng, không chỉ vì nội dung độc đáo mà còn vì thân phận đặc biệt của nó: “Tôi tặng cuốn sách này cho những ai bụng nhồi đầy tiếng Hy-lạp, tiếng La-tinh, mà chết đói”- Juyn Valex (Cậu Tú, nxb Văn học, 1974). Tiếp tục đọc “Đi tìm dịch giả Trần Dần”→
Nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy đã trân trọng chọn vào phần “Thơ người Thơ đã mất”, sách “Thơ bạn Thơ 2” (Nxb Văn học, 2012) một bài thơ hay, lạ: KHI NÀO THẤY, và thương nhớ Bạn Thơ của anh : “Anh Xuân Hoàng ơi, tôi đã tìm thấy bí quyết vì sao Anh viết được những bài thơ hay và vì sao Anh sống hoàn thành một đời thơ đẹp… Thơ Anh, đời thơ Anh còn cần thêm lời đò đưa gì nữa ?”
Trong một thiên tuỳ bút đặc sắc viết về mùa đông Hà Nội, cố nhà văn Băng Sơn đã viết những dòng giống như lời trăng trối cho đời: “Phải cảm ơn ai đây, trái đất, vũ trụ hay thượng đế, ông trời và tổ tiên đã chọn nơi này cho ta có một đất nước quê hương mỗi năm có bốn mùa rõ rệt, nhất là Hà Nội, nắng thì thật nắng, thu thì thật thu, và mùa đông là niềm trữ tình đầy hoài niệm… Ta đang ăn mùa đông, uống mùa đông, ta giơ tay ra nhận lá thư từ trời gửi về màu đỏ lá bàng hay màu vàng cây cơm nguội, lá thư là tín sứ, là nhịp đàn thăng hoa trong không gian tìm người tri âm tri kỷ… Mùa đông Hà Nội, đến một cột đèn cũng thành kỷ niệm đời người, một tiếng rao khuya cũng rền vang tâm tưởng…”
Mùa Đông- mùa của nỗi buồn tuyệt vọng trong cuộc đời cũ, mùa dễ gợi lên sự chiêm nghiệm về những điều tàn tạ …Chúng ta hãy nhớ lại các nhạc phẩm bất hủ thời tiền chiến, như Đêm Đông, Con thuyền không bến… cùng những bức tranh Phố của danh họa Bùi Xuân Phái… Đó là mùa sương mù phủ dày đặc trên mặt nước hồ Tây- lý do để hồ được mang tên hồ Dâm Đàm, tức hồ mù sương- và cũng là một nguyên cớ để những kẻ xấu tạo dựng nên một vụ án đã vấy bùn lên thanh danh của bậc công thần ái quốc Lê Văn Thịnh trong suốt chín trăm năm…
Thực tế xuất bản cho thấy lao động của dịch giả còn bị xem nhẹ. Ảnh minh họa
(TBKTSG) – Gần đây rộ lên những cuộc tranh luận về chất lượng dịch thuật. Trong các cuộc tranh luận đó, đẳng cấp, trình độ, thái độ, đạo đức của dịch giả được đưa ra mổ xẻ. Nhưng phía sau đó là gì? Lao động của dịch giả được ghi nhận ra sao?
“Chúng tôi chỉ là những kẻ dịch thuê, xét cho cùng là vậy”, ông Phạm Viêm Phương, một dịch giả văn học nói. Cách nói vừa trần trụi vừa “cám cảnh” đó có lý từ một thực tế xuất bản, ở đó lao động của dịch giả còn bị xem nhẹ. Tiếp tục đọc “Dịch giả hay kẻ dịch thuê?”→
Đối với rất nhiều người Việt Nam ở khắp đất nước và ở khắp các phương trời xa xôi, Hà Nội là nỗi niềm đau đáu nhớ thương…Và Hà Nội cũng đã trở nên gần gũi thân quen một cách lạ lùng đối với nhiều thế hệ người VN cũng như đối với không ít vị khách nước ngoài… Điều đó có thể lý giải bằng nhiều nguyên cớ- mà nguyên cớ trực tiếp nhất, và cũng sâu xa nhất, chính là bởi Hà Nội có bốn mùa thật rõ rệt và đặc sắc, mà người ta có thể cảm nhận được qua da thịt từng sự thay đổi nhỏ bé của hoa lá, mặt sông gương hồ, con đường lối ngõ, những gương mặt người…Và chúng góp phần tạo nên cái được gọi là Hồn sâu thẳm của Hà Nội. Tiếp tục đọc “Hà Nội Bốn Mùa – Xuân”→
Vụ nhà báo Đỗ Doãn Hoàng bị một bọn xã hội đen hành hung một cách dã man, độc ác khiến phần đông giới báo chí VN đau xót và phẫn nộ. Đây là một cú giáng trả có mục đích, có tính toán vào Công lý, Tri thức và Sự thật mà những người thuộc “quyền lực thứ tư” đang làm một đại diện xứng đáng. Là một nhà báo, tôi xin gửi tới Đỗ Doãn Hoàng bài thơ cũ nhưng có lẽ còn nguyên tính thời sự này như một lời tri ân, cảm thông, động viên bạn đồng nghiệp.
Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng trên đường đi điều tra về phá rừng pơ-mu cổ thụ ở Trạm Tấu, Yên Bái. Tiếp tục đọc “Khóc bạn”→
Xưa nay, nhân gian thường nói sống ở đời thì ai cũng phải có tin tưởng đối với quyền năng của cõi siêu hình, gồm hết từ Trời Phật, thần linh các loại cho đến đám quỹ ma, cô hồn. Như trong giới ngư dân, sống nhờ biển cả, họ luôn sống – và cả khi chết – trong tâm cảnh bị gắn chặt vào vô số điều mê tín, dị đoan. Rồi từ định kiến “Có tin mới có linh” nhiều lúc người ta trở nên hồ đồ, hoang tưởng, tin tưởng vô điều kiện về những điều siêu nhiên, không kèm theo chút nào lý trí phân tích, phản biện. Tiếp tục đọc “Về Những Đứa Trẻ Bị Thiêu Cúng Cô Hồn Biển”→