Since 1945, the Vietnamese defeated the French politically and militarily, overcame military setbacks against the United States to win politically and militarily and politically defeated U.S. ally South Vietnam, and fought the Chinese to a draw. It wasn’t a bad showing by Vietnam …
Yes, yes, and no …
With the Battle of Dien Bien Phu, the Viet Minh beat the French and, after a nine-year war (1945–1954), re-established independence (Vietnam was briefly independent at the end of World War II). It was a clear and decisive military and political victory.
Phần này bàn về khuynh hướng lẫn lộn (có người gọi là ngọng) n – l trong tiếng Việt từ TK 17. Phần này đánh số là 32C vì tiếp theo hai bài viết phần 32 và phần 32B trước đây.
Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ), điều này cho ta dữ kiện để xem lại một số cách đọc chính xác hơn so với các dạng chữ Nôm cùng thời. Ngoài ra, phần này sẽ bàn rộng ra để cho thấy lẫn lộn n – l có thể là một hiện tượng vùng miền (areal feature/A), đặc biệt là từ góc độ lịch đại cho thấy đóng góp của khuynh hướng lẫn lộn n – l vào quá trình hình thành tiếng Việt mà ít người biết đến.
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh – tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
Question: Why is Vietnam a good communist country, but China is a bad communist country?
Answer: I think Vietnam proves itself to be a good communist country.
War Remnants Museum in Vietnam
First of all, If you study the history of Vietnam after 1945, you will notice that it is almost entirely filled with conflict and violence, in which there is a fierce struggle led by nationalist forces under the Communist Party of Vietnam. The Communist State of Vietnam has led the Vietnamese people to overcome the horrific consequences of an event that can be referred to as the ‘Vietnamese Holocaust”.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy TP HCM đề nghị cân nhắc không mời nghệ sĩ có ca khúc trái thuần phong mỹ tục, lệch chuẩn văn hóa, dự sự kiện của thành phố.
Công văn ngày 24/10 gửi đến Sở Văn hóa và Thể thao TP HCM, Hội Âm nhạc, các thành viên Hội đồng Lý luận, Phê bình văn học nghệ thuật và các cơ quan báo chí, đề nghị định hướng, chấn chỉnh hoạt động âm nhạc.
Mong muốn bảo tồn giá trị văn hóa và lan tỏa giá trị của dừa sáp, anh Trần Duy Linh (38 tuổi, ngụ xã Tam Ngãi, Vĩnh Long – trước đây là xã Thạnh Phú, H.Cầu Kè, Trà Vinh) xây dựng bảo tàng với kinh phí hơn 20 tỉ đồng.
Tri ân người mang dừa sáp về Việt Nam
Tọa lạc tại xã Tam Ngãi, Vĩnh Long, bảo tàng dừa sáp khánh thành ngày 13.12.2024 sau gần 2 năm xây dựng, với tổng vốn đầu tư hơn 20 tỉ đồng. Công trình được xây dựng trên diện tích gần 1.500 m2, gồm 1 trệt và 2 lầu.
Nơi đây tái hiện sinh động câu chuyện về cây dừa sáp, từ sự xuất hiện đầu tiên đến hành trình gắn bó với đời sống của người dân bản địa. Không gian trưng bày tôn vinh sự giao thoa văn hóa độc đáo giữa 3 cộng đồng Kinh, Khmer và Hoa, những cư dân đã chung tay tạo nên nét văn hóa đặc sắc cho vùng đất này.
Tối 15/10/1923, sau khi từ Paris về Nam Kỳ, Nguyễn An Ninh có bài diễn thuyết bằng tiếng Pháp tại Hội Khuyến học Nam Kỳ với chủ đề “L’idial de la Jeunesse Annamite” (Lý tưởng của thanh niên An Nam). Bài diễn thuyết sau đó được đăng trên tờ La Cloche Fêlée (Tiếng Chuông rè) số 5 và số 6 ngày 7 và 14/1/1924. Năm 1926, Nguyễn An Ninh dịch bài diễn thuyết ra tiếng Việt với tiêu đề “Cao vọng của bọn thanh niên An Nam” và in thành sách khổ nhỏ bỏ túi bán cho nhân dân.
Theo tôi, thanh niên ta ngày nay cần nên tránh nói về Tổ Quốc và lòng Yêu nước, mà chỉ nên tập trung sức lực để đi tìm tòi cho ra bản ngã của mình. Khi mà ta đã xác định được bản thân ta, thì hai chữ Tổ Quốc và Yêu nước sẽ trở thành những danh từ rộng lớn hơn, cao thượng hơn, thanh nhã hơn đối với ta, mà chúng ta sẽ phải hổ thẹn vì trong lúc còn ngu dốt, chúng ta đã pha trọn vào hai chữ Tổ quốc và Yêu nước những ý nghĩa thấp kém, hèn mạt nữa. Đến ngày mà tuổi trẻ An Nam không còn thấy suy tôn những mảnh bằng cấp nữa, bất chấp các thành kiến xã hội, xem thường áo mão cân đai dát vàng của bọn tay sai của thực dân, khinh miệt dáng vẻ bên ngoài trịnh trọng của các vị thân giả, khinh miệt những lời ca ngợi các tài năng giả tạo, những năng lực bất lực.
Thưa các ông,
Năm ngoái, cũng tại đây, trong một buổi thuyết trình ngắn, tôi có đề cập đến vấn đề “cần xây dựng cho dân An Nam ta một nền văn hoá”.
Với anh chị em đồng bào thiểu số ở rừng núi của chúng ta, rừng là cha, là mẹ và là đấng rất mực thiêng liêng. Có lẽ không có ai hiểu rừng và yêu rừng bằng họ. Mấy ngàn năm nay, con cháu của 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi đã duy trì danh tiếng gìn giữ và phát triển rừng rất tốt.
Nay chúng ta đã có luật để cộng đồng (dân tộc thiểu số) làm chủ rừng, thì hãy để cộng đồng làm chủ rừng thật sự, thay vì “cộng đồng làm chủ, Nhà nước quản lý”, và Nhà nước cho doanh nghiệp phá rừng làm “dự án” mà không hỏi ý kiến của cộng đồng chủ.
Các cộng đồng dân tộc thiểu số đã là chủ rừng mấy ngàn năm nay, vậy chúng ta hãy tôn trọng truyền thống lâu đời đó.
PTH
Vi Chring: Khi rừng cộng đồng chưa thực sự thuộc về cộng đồng
Làm gì để cộng đồng thực sự thành chủ rừng, được hưởng lợi từ rừng?
Nhìn lại mô hình cộng đồng tham gia quản lý rừng: Bài 1: Hiệu quả từ sự chung tay Bài 2: Nhiều vướng mắc trong giao rừng
***
Vi Chring: Khi rừng cộng đồng chưa thực sự thuộc về cộng đồng
Từ năm 2007, cộng đồng thôn Vi Chring (xã Hiếu, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum) được giao quản lý, bảo vệ 808 ha rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Gần 15 năm trôi qua, họ đã bỏ ra không ít công sức miệt mài canh giữ với niềm tin sẽ được hưởng lợi từ rừng. Thế nhưng, bên cạnh một số hỗ trợ tài chính từ các dự án phi lợi nhuận và từ chính phủ, nhân dân thôn Vi Chring vẫn chưa được khai thác bền vững để thực sự hưởng lợi từ rừng.
Trong khi đó, việc thu hồi 9,87 ha rừng cộng đồng Vi Chring để xây dựng đường dây 500 kV mạch 3 đã cho thấy số phận mong manh của các khu rừng cộng đồng. Một mặt, người dân không được tiếp cận với phần gỗ vốn thuộc về họ được khai thác từ hành lang an toàn điện, nhưng mặt khác, một doanh nghiệp lại được giao tận thu gỗ, để rồi ngang nhiên tận thu cả vào phần rừng nằm ngoài phạm vi cho phép.
Không phải vùng sâu vùng xa thiếu chuyên gia chăm sóc sức khỏe. Anh chị em đồng bào thiểu số của chúng ta bao ngàn năm nay vẫn có chuyên gia chăm sóc sức khỏe cho họ, chỉ là người Kinh chúng ta không công nhận trí tuệ của họ mà thôi.
Với người Kinh, Tây y (và Đông y) là đỉnh cao trí tuệ. Thế nên những Êđê y, Dao Đỏ y, Chăm y… đều là thuộc dạng mà “bác sĩ” Kinh ta lắc lắc đầu: “Đây là vấn đề sống chết, không thể bừa phứa được”.
Nhà nước hãy để già làng/ trưởng bản công nhận những người trong thôn/ xóm/ bản làng có khả năng chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho cả cộng đồng đó.
Hãy tôn trọng cách sống của anh chị em đồng bào mình, đồng thời giúp cho nền y học của nước nhà được phong phú hơn.
Ngành Y tế tỉnh Đồng Nai đang đối mặt với tình trạng thiếu nguồn nhân lực y tế, nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa và biên giới. Do đó, địa phương có nhiều chính sách đào tạo, hỗ trợ và thu hút y bác sĩ về cơ sở y tế làm việc, nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và chăm lo sức khỏe người dân.
Là một kỹ sư, tôi đã có dịp tiếp xúc với công nhân Việt Nam trong một nhà máy cách đây 20 năm. Phải nói rằng người Việt Nam, đặc biệt là đàn ông Việt Nam ở miền Nam, có tính cách rất giống với công nhân Ấn Độ. Thiếu tinh thần chuyên nghiệp, không thích tuân thủ kỷ luật, thích nói khoác, hiệu suất lao động thấp (tốt hơn người Ấn Độ), và thích tìm lý do bào chữa cho thất bại của mình. Họ cũng giỏi bịa ra những tai nạn không có thật để lừa đảo công ty tiền bồi thường. Họ thích cờ bạc, và một số người có thói quen uống rượu không tốt.
Các quan chức Việt Nam và Ấn Độ cũng rất giống nhau, tham nhũng hơn nhiều so với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Tuy nhiên, phụ nữ Việt Nam rất chăm chỉ và tốt bụng, và tôi nghĩ rằng đại đa số đàn ông Việt Nam không xứng đáng với họ.
Phần này bàn thêm về một số cách dùng Phật giáo từ các tài liệu chữ quốc ngữ vào TK 17 – hay từ thời LM de Rhodes và các giáo sĩ Tây phương sang Á Đông truyền đạo: đạo bụt/tượng bụt, giáo bụt… kiếp, nghiệp,kệ, pháp môn, mục liên, tì lô, mục/mộc mỗi …
Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ), điều này cho ta dữ kiện để xem lại một số cách đọc chính xác hơn so với các dạng chữ Nôm cùng thời, cũng như thông tin về một số sinh hoạt xã hội/tôn giáo từ những nhân chứng lịch sử (mắt thấy tai nghe).
Tóm lại, ở các tộc người ấy vì nam giới “không có quyền, nên không có trách nhiệm”. Cho nên, những bà vợ của họ “càng có quyền càng khổ”. Lối giải thích này tạo một ấn tượng sai lạc rằng trong các cộng đồng mẫu hệ thì “chị em ta” là nhất, “bọn đàn ông” chẳng có ký lô nào! Tai hại hơn, nó biến những người đàn ông thiếu ý thức trách nhiệm, bê tha rượu chè, làm khổ vợ con thành những người đáng được cảm thông, và biến chế độ mẫu hệ thành kẻ tội đồ!
Trong khi sự thật là dù trong chế độ mẫu hệ hay phụ hệ thì quan hệ, đời sống và hạnh phúc gia đình tốt hay xấu, trước hết là do ở con người. Nếu nói trong chế độ mẫu hệ giới đàn ông vì “không có quyền nên không có trách nhiệm” thì chẳng lẽ dưới chế độ phụ hệ, tất cả đàn ông, với quyền lực trong tay, đều rất có tinh thần trách nhiệm đối với cuộc sống gia đình?
Với những cách hiểu, cách giải thích, cách đánh giá như vậy, sẽ không phải là điều lạ nếu có ai đó trong những người hoạch định, thừa hành pháp luật, chính sách có ác cảm và có cách đối xử sai lầm đối với chế độ mẫu hệ của các tộc người thiểu số. Chẳng thế mà trong Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số, người ta đã đưa tập quán “Người con bị bắt buộc phải mang họ của người mẹ” của chế độ mẫu hệ vào danh mục “Các phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình cần vận động xoá bỏ” (Phụ lục B).
Theo chúng tôi, dù chỉ là “vận động xoá bỏ” chứ không phải là “nghiêm cấm”, quy định đó cũng thể hiện một cái nhìn kỳ thị và xâm phạm truyền thống văn hoá của các tộc người theo mẫu hệ.
(Trích Nam quyền trong chế độ mẫu hệ ở Việt Nam)
Nam quyền trong chế độ mẫu hệ ở Việt Nam
Danh mục các tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình
VTV.vn – Nữ đạo diễn chia sẻ về quá trình làm phim “Mưa đỏ” và khát vọng truyền tải giá trị hòa bình cho thế hệ hôm nay.
Trong cuộc trò chuyện với Thời báo VTV, NSƯT, Thượng tá Đặng Thái Huyền – Phó Giám đốc Điện ảnh Quân đội nhân dân và ekip đã khẳng định: Sáng tạo điện ảnh không có giới hạn giới tính, chỉ có sự tận hiến và trách nhiệm với lịch sử. Bộ phim không chỉ tái hiện chiến tranh, mà còn truyền tải giá trị hòa bình, tình yêu và niềm tin cho thế hệ hôm nay.
PV: Sau khi phim Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối đạt thành tích khá tốt dịp A50, chị có cảm thấy áp lực doanh thu khi ra mắt Mưa đỏ dịp A80 không?
Đạo diễn Đặng Thái Huyền: Tôi nghĩ rằng việc xuất hiện nhiều phim đề tài lịch sử – chiến tranh là tín hiệu đáng mừng để khích lệ những người làm phim như chúng tôi, và cả thế hệ trẻ có thể tiếp tục xông pha vào dòng phim được xem là “khó, khổ và khô” này. Với tôi, đó không phải áp lực, mà là niềm hạnh phúc và động lực.
Đạo diễn và những nhân viên đoàn phim tại bối cảnh quay.
Channelnewsasia.com
It is an image etched in the minds of generations – the black-and-white footage of Lee Kuan Yew blinking back tears on Aug 9, 1965. But what else lay behind that seminal moment and the familiar story of Singapore’s separation from Malaysia? Over five months, we sifted through hundreds of declassified files in the archives of Singapore, the United Kingdom and Australia. These were telegrams marked “top secret” – unvarnished correspondence between British officials; private and frank memos between leaders; and raw, very personal letters perhaps never meant for public eyes. Some of what we found in the archives was jaw-dropping.
A letter from the night before separation by the British High Commissioner, described how he raced to find the Tunku, pleading for a postponement of the announcement.
There were reports about threats to arrest Lee, and later, a communist plot to assassinate him.
We found a letter in which an Indonesian diplomat expressed “glee” at the separation, mocking Malaysia with an “I told you so”. And perhaps even more shocking to us, the revelation that the British had secretly stored nuclear weapons at Tengah Air Base as part of its Cold War strategy.
The challenge wasn’t finding material but narrowing it down. We focused on the 100 days surrounding independence. Our litmus test for a “must-include” point? If it made us text each other with a “OMG, read this”.
But at the heart of the series is the people behind the letters and behind the history-making decisions – their anxieties, their doubts, their feelings of humiliation and betrayal. And decades on, the poignancy of their children and grandchildren reading the words they had written.
We hope Separation: Declassified lets you see a familiar story anew – not as a chapter in a textbook, but as lived, human history.
Yuxin Peh and Clarisse Goh
Producers, Separation: Declassified