Những nghiên cứu về chính sách di dân ở Việt Nam

Bộ Y Tế – Cục Dân Số

Để thực hiện mục tiêu chiến lược phân bố dân số phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội đất nước và củng cố quốc phòng, ngay từ những năm 1960 của thế kỷ trước, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm phân bố lại dân cư và lao động trong cả nước bằng những chính sách cụ thể như: chính sách vận động nhân dân đi xây dựng kinh tế mới, chính sách định canh định cư ổn định di dân tự do, chính sách di dân ổn định biên giới… Gần đây nhất là các chính sách di dân để phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mục tiêu dân sinh trên một số địa bàn miền núi, vùng sâu, biên giới, để vừa đảm bảo cho khai hoang phát triển kinh tế, vừa đảm bảo mục tiêu quốc phòng, an ninh. Đánh giá tình hình thực hiện các chính sách di dân của Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, đã có một số công trình nghiên cứu, các ấn phẩm, bài viết về thực hiện chính sách di dân.

Các nghiên cứu về chính sách di dân


1. Các nghiên cứu về tình hình thực hiện chính sách di dân xây dựng kinh tế mới, di dân định canh định cư, di dân ổn định biên giới.
Một trong những nghiên cứu đề cập khá toàn diện đến chính sách di dân là công trình của Đặng Nguyên Anh về Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội ở các tỉnh miền núi [1]. Trong nghiên cứu này, tác giả đã đi sâu tìm hiểu các loại hình di dân nổi bật ở miền núi trong những năm 1990, bao gồm di dân kinh tế mới, định canh, định cư di dân tự do và di dân ổn định biên giới, chỉ ra thực chất của các loại hình di dân này là loại hình di dân nông thôn – nông thôn. Đặc biệt là nghiên cứu đã đánh giá tổng quan về các chính sách di dân trên ba loại hình, phân tích những mặt được và chưa được trong chủ trương chính sách đối với các loại hình di dân nêu trên. Nhấn mạnh mặt được lớn nhất của chính sách di dân là phân bố lại lao động – dân cư, giãn dân đến những vùng vắng dân, thưa dân, vùng còn nhiều tài nguyên đất để phát triển kinh tế, đảm bảo quốc phòng, an ninh, biên giới. Đồng thời chỉ ra mặt hạn chế của chính sách là nhiều quy định của chính sách đã bộc lộ sự bất cập, ít khả thi như chính sách di dân kinh tế mới với quy mô đầu tư dàn trải, thiếu đồng bộ, mang tính bình quân và chưa tính đến những đặc trưng riêng của từng vùng. Công tác định canh định cư mặc dù được lồng ghép trong các chính sách hỗ trợ cho miền núi song chưa đem lại hiệu quả như mong muốn, chưa góp phần ổn định đời sống của đồng bào tộc người thiểu số ở các tỉnh miền núi.


Quá trình đánh giá thực trạng, kiểm định hiệu quả của các chính sách di dân đối với các loại hình di dân, tác giả đã đi sâu phân tích, đánh giá đặc điểm chủ yếu của các cộng đồng di dân, dựa trên kết quả khảo sát mẫu của đề tài với 7 tỉnh tại miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Kết quả cho thấy, người di cư có cuộc sống tương đối ổn định và có mục đích di cư lâu dài, ổn định cuộc sống. Tuy có sự khác nhau giữa các địa phương trong nội dung các chính sách di dân và định hướng phát triển kinh tế – xã hội, song mức độ hiểu biết về chính sách của người dân địa phương và nhận thức của cán bộ quản lý còn nhiều hạn chế. Khả năng tiếp cận được các chính sách hiện hành phụ thuộc rất nhiều vào công tác thông tin, tuyên truyền và sự triển khai thực hiện đến người dân bằng các lợi ích cụ thể, dù dưới loại hình di dân nào. Vì vậy, việc xây dựng và thực hiện một hệ thống chính sách đồng bộ và hiệu quả, phù hợp với tình hình di dân và điều kiện phát triển kinh tế – xã hội ở các tỉnh miền núi hiện nay là rất cần thiết.

Tiếp tục đọc “Những nghiên cứu về chính sách di dân ở Việt Nam”

Bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số – Trăn trở của những người trong cuộc (chuỗi 3 bài)

QDND.vn

Bài 1: Những người giữ hồn văn hóa dân tộc giữa lòng Thủ đô

Bài 2: Tiếng lòng từ chủ thể văn hóa

Bài 3: Để chủ thể văn hóa tiếp tục phát huy tâm huyết với vốn di sản quý báu 

Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc nói chung và di sản văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng luôn là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta, được đặt trong tổng thể sự phát triển quốc gia, dân tộc. Thời gian qua, nhờ các chính sách tích cực, hiệu quả, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của đồng bào các dân tộc thiểu số được quan tâm bảo tồn, tôn vinh và phát huy giá trị, góp phần quan trọng nâng cao đời sống tinh thần đồng bào các dân tộc, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn những hạn chế, bất cập cần quan tâm khắc phục. Báo Quân đội nhân dân giới thiệu loạt bài “Bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số – Trăn trở của những người trong cuộc”.

Bài 1: Những người giữ hồn văn hóa dân tộc giữa lòng Thủ đô

Tại “Ngôi nhà chung” Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (Sơn Tây, Hà Nội), chúng tôi đã gặp những Nghệ nhân Ưu tú, những người bằng tình yêu, trách nhiệm và cả những băn khoăn, trăn trở đang ngày ngày bền bỉ, lặng thầm giữ gìn hồn cốt văn hóa dân tộc. Họ không chỉ là những người trực tiếp bảo tồn di sản văn hóa mà còn thắp lên ngọn lửa đam mê, truyền cảm hứng để những giá trị quý báu không bị lãng quên, mai một.

Lớp cha trước, lớp con sau

Tiếp tục đọc “Bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số – Trăn trở của những người trong cuộc (chuỗi 3 bài)”

Ocean Vuong Was Ready to Kill. Then a Moment of Grace Changed His Life.

The Interview By David Marchese May 3, 2025

Seen in a soft light, Ocean Vuong’s life looks like a modern American fairy tale. In 1990, he and his mother came to this country as refugees from Vietnam. They landed in small-town Connecticut and began muddling their way through an existence limited by low-paying work and cultural and personal alienation. Vuong seemed destined to stay stuck on society’s margins. Until, that is, he discovered literature and his own enormous gift for writing.

Now Vuong is one of the country’s most esteemed poets, winner of a prestigious MacArthur Fellowship (a.k.a. a “genius grant”) and a tenured professor in the creative-writing department at New York University. His bittersweet debut novel, “On Earth We’re Briefly Gorgeous,” a marvel of emotional and narrative compression published in 2019, became a best seller and, over time, a bona fide millennial classic. All this, and he’s only 36.

But there’s another side to Vuong’s narrative, one that doesn’t resolve so neatly. It’s that side of his history that informs his new novel, “The Emperor of Gladness,” which will be published on May 13.

At 400-plus pages, with a large cast of characters and comedic set pieces and touching on fast-food jobs, elder care and the static nature of most American lives, “Emperor” is a bigger book in every way than Vuong’s first. It also provided the occasion for what turned out to be one of the most emotionally intense interviews I’ve ever done.

Listen to the Conversation With Ocean Vuong

Tiếp tục đọc “Ocean Vuong Was Ready to Kill. Then a Moment of Grace Changed His Life.”

It didn’t start on October 7: A historical timeline of Israel’s brutality towards Palestinians

The narrative around October 7 often overlooks the deep-rooted history of the Israel-Palestine conflict. This timeline reveals key events dating back to 1897, when the First Zionist Congress was held, through the Nakba in 1948, and decades of subsequent violence. The focus on a single day obscures a much longer story of displacement and systemic injustice that continues to affect Palestinians today.

Book excerpt: “Freedom: Memoirs 1954-2021” by Angela Merkel

freedom-cover-st-martins-press-1280.jpg
St. Martin’s Press

CBS.com

In “Freedom: Memoirs 1954-2021” (published by St. Martin’s Press), former German Chancellor Angela Merkel writes about two lives: her early years growing up under a Communist-controlled police state in East Germany, and her years as leader of a nation reunited following the fall of the Berlin Wall.

Read an excerpt below

Prologue

This book tells a story that will not happen again, because the state I lived in for thirty-five years ceased to exist in 1990. If it had been offered to a publishing house as a work of fiction, it would have been turned down, someone said to me early in 2022, a few weeks after I stepped down from the office of federal chancellor. He was familiar with such issues, and was glad that I had decided to write this book, precisely because of its story. A story that is as unlikely as it is real. It became clear to me: telling this story, drawing out its lines, finding the thread running through it, identifying leitmotifs, could also be important for the future.

For a long time I couldn’t imagine writing such a book. That first changed in 2015, at least a little. Back then, in the night between September 4 and 5, I had decided not to turn away the refugees coming from Hungary at the German-Austrian border. I experienced that decision, and above all its consequences, as a caesura in my chancellorship. There was a before and an after. That was when I undertook to describe, one day when I was no longer chancellor, the sequence of events, the reasons for my decision, my understanding of Europe and globalization bound up with it, in a form that only a book would make possible. I didn’t want to leave the further description and interpretation just to other people.

Tiếp tục đọc “Book excerpt: “Freedom: Memoirs 1954-2021” by Angela Merkel”

Photo group says it has ‘suspended attribution’ of historic Vietnam picture because of doubts

Pulitzer Prize-winning photographer Nick Ut, center, flanked by Kim Phuc, left, holds the" Napalm Girl", his Pulitzer Prize winning photo as they wait to meet with Pope Francis during the weekly general audience in St. Peter's Square at The Vatican, May 11, 2022. (AP Photo/Gregorio Borgia, file)

Pulitzer Prize-winning photographer Nick Ut, center, flanked by Kim Phuc, left, holds the” Napalm Girl”, his Pulitzer Prize winning photo as they wait to meet with Pope Francis during the weekly general audience in St. Peter’s Square at The Vatican, May 11, 2022. (AP Photo/Gregorio Borgia, file)

South Vietnamese forces follow after terrified children, including 9-year-old Kim Phuc, center, as they run down Route 1 near Trang Bang after an aerial napalm attack on suspected on Viet Cong hiding places, June 8, 1972. (AP Photo/Nick Ut, File) Tiếp tục đọc “Photo group says it has ‘suspended attribution’ of historic Vietnam picture because of doubts”

Video clips: BBC by 30/4/1975 in Sài Gòn; BBC FTER 30/4/1975 in Sài Gòn; VTV24 Diễu hành ngày 30/4/2025, và phiên bản đầy đủ HD dài 2 giờ 18 phút

Nhân 50 năm ngày cuộc chiến kết thúc, BBC News Tiếng Việt giới thiệu lại loạt phóng sự của các phóng viên BBC đã có mặt tại Việt Nam và tường thuật thời khắc lịch sử này.

Tiếp tục đọc “Video clips: BBC by 30/4/1975 in Sài Gòn; BBC FTER 30/4/1975 in Sài Gòn; VTV24 Diễu hành ngày 30/4/2025, và phiên bản đầy đủ HD dài 2 giờ 18 phút”

From Swampland to Heartland: The History of Bến Thành Market

Saigoneer.com Wednesday, 01 March 2023. Written by Hiếu Y. Graphic by Mai Khanh

The intricate histories and niche experiences that we love about Saigon can make it difficult to explore. If you enjoy reading about Saigoneer’s favorite destinations, Urbanist Travel can help create a tailor-made itinerary based on your requests.
More Informatio

Read this article in Vietnamese at Sài·gòn·eer.From the very first discussions in 1868 regarding a new marketplace for Saigon, it was not until 1914, that Bến Thành Market became a reality. The birth of the market was like a dream come true, one that came together after nearly five decades of debate in search of solutions for the city’s infrastructure woes.

The five-decade quest to seek a “worthy” marketplace

In her research conducted on the vendors of Bến Thành, anthropologist Ann Marie Leshkowich recounts the lengthy discussions of then Saigon’s colonial administration regarding the establishment of a new commercial center, one that, according to them, must become a place “worthy” of the metropolis they were helping to create.

In 1868, the French had only spent about one decade trying to install a colonial network in Vietnam. Members of the Municipal Council (Conseil Municipal) had the thought of building a new marketplace from metal, replacing traditional thatch markets. In 1869, a budget of 110.000 francs was greenlit, but by 1870, the estimated expenditure had ballooned threefold, causing them to reconsider the planned building methods and amount of materials.

Tiếp tục đọc “From Swampland to Heartland: The History of Bến Thành Market”

Nghĩ về tên xứ sở từ một cây cầu gần nhà [Những địa danh Khmer xưa ở miền Nam còn tồn tại đến ngày nay]

PHẠM HOÀNG QUÂN 04/05/2025 10:14 GMT+7

TTCTNhững cái tên thân thương gắn với làng xóm xứ sở không chỉ có của người Kinh, và dứt khoát là không chỉ có tên Hán – Việt.

Cầu Á Rặt bắc qua rạch Á Rặt, ấp Mỹ Long, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè, Tiền Giang. Ảnh: Tư liệu PHQ

Tôi sống ở xứ Cái Bè, vốn là một trong những địa bàn người Việt đến định cư sớm nhứt ở Nam Bộ, vẫn thấy đây đó nhiều tên sông rạch khó hiểu. 

Tiếp tục đọc “Nghĩ về tên xứ sở từ một cây cầu gần nhà [Những địa danh Khmer xưa ở miền Nam còn tồn tại đến ngày nay]”

Viet Thanh Nguyen on 50 Years After Vietnam War

We mark 50 years since the end of the U.S. war on Vietnam with the acclaimed Vietnamese American writer Viet Thanh Nguyen. On April 30, 1975, North Vietnamese troops took control of the South Vietnamese capital of Saigon as video of U.S. personnel being airlifted out of the city were broadcast around the world. Some 3 million Vietnamese people were killed in the U.S. war, along with about 58,000 U.S. soldiers. Hundreds of thousands of Lao, Hmong and Cambodians also died, and the impact of the war is still being felt in Vietnam and the region.

Nguyen says while the Vietnam War was deeply divisive in the United States during the 1960s and ’70s, American interference in Southeast Asia goes back to President Woodrow Wilson in 1919, when he rejected Vietnamese demands for independence from France. “And from that mistake, we’ve had a series of mistakes over the past century, mostly revolving around the fact that the United States did not recognize Vietnamese self-determination,” says Nguyen.

We Are Here Because You Are There”: Viet Thanh Nguyen on How U.S. Foreign Policy Creates Refugees

Pulitzer Prize-winning Vietnamese American writer Viet Thanh Nguyen discusses why he chooses to use the term “refugee” in his books, and speaks about his own experience as a refugee. His new novel tells the story of a man who arrives in France as a refugee from Vietnam, and explores the main character’s questioning of ideology and different visions of liberation. Titled “The Committed,” the book is a sequel to “The Sympathizer,” which won the Pulitzer Prize for Fiction in 2016. Nguyen says his protagonist is “a man of two faces and two minds” whose ability to see beyond Cold War divisions makes him the perfect figure to satirize the facile stories people tell themselves about the world. “He’s always going beyond the surface binaries to look underneath.” Nguyen is the chair of English and professor of English and American studies and ethnicity at the University of Southern California. His other books include “The Refugees” and the edited collection “The Displaced: Refugee Writers on Refugee Lives.”

Viet Thanh Nguyen Interview: The Vietnam War Refugee Experience Behind The Sympathizer

Pulitzer Prize-winning author Viet Thanh Nguyen reflects on his childhood as a refugee in America, his writing career, and family: from the trauma of displacement to the healing found in fatherhood and literature. Nguyen shares how these experiences have shaped his life and work, from his novel The Sympathizer to his commentary on war, cultural identity, and American life.

00:00 Introduction to Viet Thanh Nguyen and The Sympathizer

00:49 Refugee journey, family separation, and overcoming trauma

03:43 Humor, cultural expectations, and Vietnamese Catholic roots 05:29 Cultural identity, rebellion, and hidden writing career

07:14 Family relationships, cultural silence, and lessons in parenting 09:35 Impact of fatherhood, learning from children, and rediscovering play

12:13 Art, personal identity, and American cultural values 14:49 Vietnamese American identity, racism, and vision for the future

17:27 Teaching about war, challenges of digital information overload

20:31 Apocalypse Now, self identity struggles, and power of storytelling

24:41 Vietnam War legacy, draft-era resistance vs. modern volunteer military

26:47 Family history, generational trauma, and refugee story from Vietnam

29:48 Writing, fatherhood, and healing

Tôi đã “minh oan” cho cây tre nhiều điều

doanhnhansaigon.vn

XUÂN LỘC/DNSGCT| 13/04/2013 08:57

Tiến sĩ Diệp Thị Mỹ Hạnh là người đưa ra ý tưởng, sau đó trực tiếp xây dựng Làng tre Phú An (Bến Cát, Bình Dương) – một bảo tàng tre lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á và năm 2010 đã nhận được giải thưởng Xích đạo (Equator Prize) của Liên Hiệp Quốc về đa dạng sinh học.

Tôi đã “minh oan” cho cây tre nhiều điều

Tiến sĩ Diệp Thị Mỹ Hạnh là người đưa ra ý tưởng, sau đó trực tiếp xây dựng Làng tre Phú An (Bến Cát, Bình Dương) – một bảo tàng tre lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á và năm 2010 đã nhận được giải thưởng Xích đạo (Equator Prize) của Liên Hiệp Quốc về đa dạng sinh học.

Đọc E-paper

TS Diệp Thị Kiều Trang – Tranh: Hoàng Tường

Bà nhiệt tình và thân thiện với tất cả những ai đến chơi hay tìm hiểu về Làng tre, từ những học sinh tiểu học đến các vị khách nước ngoài chỉ kịp ghé tham quan lúc đã hơn 9 giờ tối.

Bà có vẻ bề ngoài mạnh mẽ và lạc quan nên không mấy ai biết được bà đã phải trăn trở mỗi đêm để tìm cách duy trì làng tre này. Chúng tôi mở đầu câu chuyện với bà bằng câu hỏi thành thực: “Động cơ nào thúc đẩy bà xây dựng Làng tre?” và bà vui vẻ trả lời.

Rất nhiều người thắc mắc vì sao tôi từ bỏ cuộc sống an nhàn cùng gia đình, con cái ở nước ngoài để về đây lăn lộn với Làng tre. Ngay cả tôi cũng không thể lý giải được. Có lẽ vì tôi mê tre quá.

Với tôi, cây tre không chỉ là một loài thực vật vô tri vô giác, mà gần như là một thực thể sống, biết yêu thương và vui buồn. Vì vậy, tôi đã đưa những giống tre từ cao nguyên về trồng ở trên vùng đất đắp cao hay trồng gần những chiếc cầu khỉ của miền Tây và làm thêm dòng kênh nhân tạo để cây… đỡ nhớ nhà!

* Có đặc điểm gì ở tre khiến bà mê loài cây này đến thế?

– Theo quan niệm của người phương Đông, cây tre, cây trúc tượng trưng cho mẫu người quân tử với những tính cách kiên cường, ngay thẳng mà hòa hiếu, độ lượng. Quần thể tre cho thấy một xã hội thuận hòa kỷ cương, theo quy luật “Tre già măng mọc”, chứ không phải tranh sống theo kiểu “Cá lớn nuốt cá bé”.

Tôi thấy vui khi công việc của mình đã “minh oan” cho cây tre nhiều điều. Chẳng hạn dân gian thường cho rằng phải qua vài chục năm, tre mới nở hoa. Khi nở hoa, tất cả mọi tinh hoa, mọi chất dinh dưỡng mà cây tạo ra được đều tập trung trong những bông hoa, chất dinh dưỡng dự trữ trong thân cây cũng bị tiêu hao hết nên tre sẽ chết.

Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu, tôi thấy nhiều giống tre mỗi năm trổ hoa một lần, có cây hai, ba năm trổ hoa một lần mà không chết.

Tiếp tục đọc “Tôi đã “minh oan” cho cây tre nhiều điều”

Letters from the great Frontline – Những Lá Thư Từ Tiền Tuyến Lớn

[See English translation below ]

Dưới đây mình chép lại một lá thư của liệt sĩ Đồng Thế Thức, gửi từ chiến trường (miền Nam) cho cha mẹ và gia đình ở miền Bắc trong thời gian kháng chiến chống Mỹ những năm 1970s.

Liệt sĩ Đồng Thế Thức là bác ruột của mình, bác là anh trai của mẹ. Bác Thức sinh năm 1942, lớn hơn mẹ 14 tuổi. Bác học xong cấp 3 là nhập ngũ. Theo mẹ kể lại, bác Thức hy sinh vào khoảng năm 1974 tại Tây Ninh. Bức thư này không ghi rõ ngày tháng, nhưng theo mẹ kể có lẽ bác viết tầm năm 1973. Trong thư bác nói về niềm tin ngày thống nhất đang rất gần rồi, “con sẽ trở về trên chuyến tàu Sài Gòn – Hà Nội”. Thêm nữa thời chiến, liên lạc rất khó khăn, cho nên có khi gửi thư cả vài năm mới đến được tay người nhà nên không biết chính xác thư viết khi nào. Đây là một bức thư hiếm hoi bác gửi về được tới gia đình trong những năm chiến đấu ở chiến trường miền Nam.

Lá thư này có đề địa chỉ là hòm thư. 86558YK – B11. Thời đó khi nói đến đi Bê (B) tức là đi vào chiến trường miền Nam. Từ năm 1960, các khu vực tác chiến quân sự có  tên gọi quy ước A là miền Bắc, B là miền Nam, C là Lào và Đ là Cam pu chia (sau đổi thành K). Tất cả cán bộ từ Bắc đi B đều phải đi theo những con đường tuyệt bí mật, không ai biết đường đi của ai. Hơn nữa, bác Thức đóng quân tại Tây Ninh, là nơi căn cứ của Trung Ương Cục Kháng Chiến Miền Nam, phải cực kỳ bí mật không thể biên thư tuỳ tiện để lộ tung tích. Những ai đi B là dù không nói, là biết không hẹn ngày trở về.

Trong thư có một số chữ bị mờ nhìn không còn rõ. Mình cố gắng chép lại để nguyên văn từng dấu chấm, phẩy, dấu cảm thán. Có một số câu đọc nghe có vẻ không hoàn chỉnh. Điều này có lẽ là do, như trong như bác nói, lá thư phải viết trong hoàn cảnh nhanh và rất vội để gửi cho người quen mang ra ngoài Bắc. Vì cơ hội này không hề dễ dàng gặp được trong chiến trường. Cho nên phải viết thật nhanh và vội, vì vậy có lẽ cũng rất nhiều hồi hộp và cảm xúc. 

Tiếp tục đọc “Letters from the great Frontline – Những Lá Thư Từ Tiền Tuyến Lớn”

How the climate crisis fuels gender inequality

The climate crisis may be a collective problem, but its impacts do not fall equally. Women and girls often bear the heaviest burdens.

November 30, 2023

Editor’s note

This story is part of As Equals, CNN’s ongoing series on gender inequality. For information about how As Equals is funded and more, check out our FAQ.

Climate change acts as a threat multiplier, finding existing injustices and amplifying them. Women and girls already grapple with gender inequality, but when extreme weather devastates a community, the UN found that inequalities worsen: Intimate partner violence spikes, girls are pulled from school, daughters are married early, and women and girls forced from their homes face a higher risk of sexual exploitation and trafficking.

“When we look at who’s affected worse, who’s on the frontlines of the climate crisis, it’s primarily women — women in poor and vulnerable countries,” Selwin Hart, UN Special Adviser to the Secretary-General on Climate Action and Just Transition, told CNN. “And unfortunately, our policies or strategies are really not geared to address this challenge.”

To explore the complex links between gender and climate change, CNN worked with seven women photojournalists who spent time with women and girls in seven countries across the Global South to document the challenges they face.

This visual project gives a snapshot of the myriad ways the human-induced climate crisis is upending their lives, but also shows how they are fighting back. Every image shows both struggle and survival, the battle to live a decent life in a swiftly changing climate.

Girls’ education in Nigeria

The Center for Girls’ Education runs a series of programs in Nigeria to help girls stay in school. One in every five of the world’s children who are out of school is in Nigeria, according to UNICEF, and it is girls who are impacted the most.

Photographs by Taiwo Aina for CNN

More than 10 million children between 5 and 14 years old are absent from classrooms across Nigeria, according to UNICEF. For girls, the statistics are even bleaker: In states in the northeast and northwest of the country, fewer than half attend school.

This education crisis is the result of a tangle of factors, including poverty, geography and gender discrimination, the UN agency adds. But against the backdrop of these individual factors is the broader context of the climate crisis.

Nigeria is growing hotter and dryer, and extreme weather such as flash floods and landslides are becoming fiercer and more frequent. Climate disasters can make schools inaccessible and classrooms unsafe. Communities struggling to cope with extreme weather sometimes turn to their children to help or to earn extra money to support the family. And girls, whose attendance at school is already discouraged in some communities, are often most affected.

For every additional year the average girl attends school, her country’s resilience to climate disasters can be expected to improve by 3.2 points on an index that measures vulnerability to climate-related disasters, according to estimates from the Brookings Institution.

There are efforts to support girls’ education and equip them with the resources to cope with a fast-changing climate. The Center for Girls’ Education in the northern Nigerian city of Zaria runs programs to help girls stay in school and offers training on how to cope with the impacts of extreme weather.

“I feel when we give the girls education on climate change, how to mitigate it, it will go a long way in helping the girls in how to support themselves in times of difficulties, and even help them prepare for it,” said Habiba Mohammed, director of the Center for Girls’ Education.

Asiya Sa’idu, 17

Tiếp tục đọc “How the climate crisis fuels gender inequality”

Heaven & Earth (1993)

Wikipedia – Heaven & Earth is a 1993 American biographical war drama film written and directed by Oliver Stone, and starring Tommy Lee Jones, Haing S. Ngor, Joan Chen, and Hiep Thi Le. It is the third and final film in Stone’s Vietnam War trilogy, following Platoon (1986) and Born on the Fourth of July (1989).

The film was based on the books When Heaven and Earth Changed Places and Child of War, Woman of Peace, both authored by Le Ly Hayslip about her experiences during and after the Vietnam War. It received mixed reviews and performed poorly at the box office. Tiếp tục đọc “Heaven & Earth (1993)”

Nói KHÔNG với kết hôn sớm – Bộ phim về tảo hôn

Plan International Vietnam – 29-1-2024

Sanh chưa bao giờ nghĩ mình sẽ kết hôn khi mới chỉ lớp 9. Như bao bạn gái khác tại địa phương, cuộc sống sau hôn nhân của em có vô vàn trắc trở. Con của Sang không có giấy khai sinh, khi ốm đau cũng không đưa đi bệnh viện được mà chỉ ở nhà sử dụng thuốc Nam.

Nhưng Sanh vẫn tiếp tục hỗ trợ cho cộng đồng nơi em sinh sống. Là một nhà truyền thông tài ba, Sanh chia sẻ câu chuyện của mình tại những buổi sinh hoạt tại xã, tại trường để lan tỏa thông điệp nói không với tảo hôn và sống trọn vẹn với tuổi trẻ đáng giá của mình.