Việt Nam 1945-1995 – Chương 1: Quốc gia và Cộng sản

Quay về Muc lục

Phần 1: Những Nguyên Nhân Gốc của Tị Nạn

Chương 1: Quốc gia và Cộng sản

GS Lê Xuân Khoa

Ưu điểm lớn nhất của Việt Minh là khả năng tuyên truyền vận động quần chúng.53 Việt Minh đã khéo che dấu được lai lịch cộng sản dưới hình thức một mặt trận đoàn kết toàn dân với mục tiêu duy nhất là chống Pháp để đem lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc. Nhờ có thành tích chống cả Pháp lẫn Nhật, nhất là biết khai thác tối đa các quan hệ hợp tác với OSS, chủ thuyết Roosevelt và triển vọng hỗ trợ của Hoa Kỳ, Việt Minh đã dễ dàng đem lại cho mọi người niềm tin tưởng là có sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Đó cũng là một trong những lý do khiến chính phủ Trần Trọng Kim không dám chống lại Việt Minh và vua Bảo Đại sẵn sàng thoái vị.

Lịch sử Việt Nam vào nửa sau của thế kỷ XX là lịch sử của đất nước bị chia đôi và bốn cuộc chiến tranh trước và sau sự chia cắt ấy. Cuộc chiến thứ nhất là kháng chiến chống Pháp và chống Quốc Gia Việt Nam do Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (tức Mặt trận Việt Minh) lãnh đạo (1945-1954). Cuộc chiến thứ nhì là nội chiến giữa miền Bắc cộng sản và miền Nam quốc gia (1956-1975) với sự tham gia của hai khối đối đầu trong cuộc Chiến tranh Lạnh: Hoa Kỳ chiến đấu sát cánh với miền Nam, Liên Xô và Trung Quốc hậu thuẫn cho miền Bắc. Hai cuộc chiến tiếp theo xảy ra giữa Việt Nam và hai đồng minh cộng sản: Trung Quốc (tháng Hai 1979) và Cam-pu-chia (1979-1989). Tiếp tục đọc “Việt Nam 1945-1995 – Chương 1: Quốc gia và Cộng sản”

Việt Nam 1945-1995 – Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử – Lời mở đầu

Quay về Muc lục

LỜI MỞ ĐẦU

GS Lê Xuân Khoa

Cuộc chiến hai mươi năm ở Việt Nam vừa là nội chiến vừa là chiến tranh ủy nhiệm mà rốt cuộc là tất cả mọi phe đều thua: Hoa Kỳ chi phí 200 tỉ đô-la và thiệt hại trên 58,000 binh sĩ nhưng vẫn phải chịu thất bại và bỏ cuộc; Việt Nam Cộng Hòa chết hơn một trăm ngàn quân và gần nửa triệu dân để rồi bị Hoa Kỳ bỏ rơi và sụp đổ thảm thương; Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam toàn thắng nhưng đã phải trả giá bằng hơn một triệu sinh mạng bộ đội và cán bộ tại chiến trường miền Nam và khoảng hai triệu thường dân ở miền Bắc,[3] nhất là sau đó còn phải chiến đấu với hai cựu đồng minh và nhận lãnh những hậu quả tai hại khiến cho đất nước bị lâm vào tình trạng tụt hậu và nghèo đói trong mười mấy năm liền do chính sách sai lầm về cả hai mặt đối nội lẫn đối ngoại“.

Lịch sử Việt Nam trong hơn nửa sau thế kỷ XX là lịch sử của chiến tranh, tị nạn và những biến đổi lớn về chính trị ở trong nước. Bắt đầu là cuộc xâm nhập Đông Dương của đế quốc Nhật Bản vào tháng Chín 1940 bắt buộc Pháp phải nhường Đông Dương cho Nhật làm căn cứ quân sự nhưng Pháp vẫn được tiếp tục cai trị về hành chánh. Sau khi Nhật tuyên chiến với Hoa Kỳ bằng cuộc tấn công Trân Châu Cảng tháng Mười Hai 1941, toàn cõi Việt Nam bắt đầu phải chịu sự oanh tạc của không lực Hoa Kỳ nhắm vào các căn cứ quân sự và các tuyến đường giao thông vận tải của Nhật. Không có số thống kê về các nạn nhân Việt Nam của những vụ oanh tạc này nhưng con số thương vong của thường dân vô tội trong hơn ba năm trời nhất định không phải là nhỏ. Trong khi đó, nhân dân Việt Nam phải tiếp tục chịu ách thống trị “một cổ hai tròng” cho tới tháng Ba 1945 khi Nhật lật đổ chính quyền thực dân Pháp, trao trả “độc lập” cho Việt Nam nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát về an ninh, quân sự và ngoại giao. Tháng Tám 1945, sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Mặt trận Việt Minh giành được chính quyền và thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, đất nước lại lâm vào hai trận chiến thảm khốc trong thời gian ba mươi năm (1945-1975), trừ vài năm chuyển tiếp sau khi đất nước bị chia đôi năm 1954. Tiếp tục đọc “Việt Nam 1945-1995 – Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử – Lời mở đầu”

Việt Nam 1945-1995 – Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử – Mục lục

(*) Vài dòng về tác giả: Trước 1975, Giáo sư Lê Xuân Khoa giảng dạy Triết học Đông phương ở Đại học Văn Khoa và là Phó Viện trưởng Đại học Saigon. Sau 1975, ông là Chủ tịch Trung tâm Tác Vụ Đông Nam Á (Southeast Asia Resource Action Center) và Giáo sư Thỉnh giảng tại trường Cao Học Nghiên cứu Quốc tế (SAIS) và Viện Chính sách Đối ngoại (FPI) thuộc Đại học Johns Hopkins, Washington, DC. Năm 1996, Giáo sư Lê Xuân Khoa về hưu. Hiện cư ngụ tại Irvine, California. Nếu cần trao đổi thêm với tác giả về nội dung liên quan đến cuốn sách “Việt Nam 1945-1995: Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử”, độc giả có thể gửi email về: le.khoa@cox.net.

MỤC LỤC

Lời Cám ơn                                                                                                                           xv

Bảng Chữ tắt                                                                                                                      xviii

 Lời Mở đầu                                                                                                                          21

Phần I             Những Nguyên Nhân Gốc của Tị Nạn                                                          31

Chương 1        Quốc Gia và Cộng Sản                                                                               33

Các phong trào chống Pháp giành độc lập và mầm mống xung đột quốc gia-cộng sản. Nguyễn Ái Quốc với Trung Hoa Quốc Dân Đảng, Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội và OSS. Chính phủ Trần Trọng Kim và Cách mạng tháng Tám. Hồ Chí Minh, Bảo Đại và Pháp. Cuộc đối đầu giữa Việt Minh và các đảng phái quốc gia. Hành động bội ước của Lư Hán và Tiêu Văn và sự tan rã của phe quốc gia. Nguyên nhân thất bại của các lãnh tụ quốc gia.

Chương 2        Những Yếu T Bên Ngoài                                                                           75

Những lỗi lầm của Pháp: Charles de Gaulle và đầu óc thực dân ngoan cố của giới lãnh đạo Pháp. Hồ Chí Minh và bản tạm ước 4.9.1946. Chiến tranh và những cơ hội bỏ lỡ. Pháp và giải pháp Bảo Đại: đồng sàng dị mộng. Pháp làm mất chính nghĩa của phe quốc gia. Chính sách mâu thuẫn của Hoa Kỳ.

Chủ thuyết Roosevelt và hai đường lối đối nghịch trong Bộ ngoại giao. Pháp bắt chẹt Mỹ và nghịch lý trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Đông Dương từ Truman đến Eisenhower.

Chương 3        Chính sách Cải Cách Ruộng Đất                                                              122

Đường lối của Lenin: từ tư bản lý tưởng đến vô sản chuyên chính. Trường hợp Việt Nam. Các văn kiện pháp lý và các biện pháp áp dụng trước khi đất nước chia đôi: giảm tô giảm tức, qui định thành phần nông thôn, phân chia ruộng đất, vận động quần chúng, tòa án nhân dân. Chỉnh huấn trí thức và chỉnh đốn tổ chức. Luật cải cách ruộng đất 1953. Ảnh hưởng và áp lực của Trung quốc. Thí điểm áp dụng và kết quả. Đợt cải cách triệt để 1955-1956 và hậu quả khủng khiếp của nó. Những biện pháp sửa sai. Tiếp tục đọc “Việt Nam 1945-1995 – Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử – Mục lục”

Two Koreas: History at a glance

Al Jazeera

A brief history of how North and South Korea got to where they are today.

27 Apr 2017 13:00 GMT | North Korea, South Korea, Asia Pacific, Infographic

The Korean Peninsula, located between the Sea of Japan and the Yellow Sea, has seen heightened tensions in recent months as US President Donald Trump has threatened to act against North Korea’s continued missile tests.

After the defeat of the Japanese empire in World War II, Korea was split into two spheres. The Soviet Union controlled the territory in the north and the US controlled the south. Tiếp tục đọc “Two Koreas: History at a glance”

Cách nói tôi, ta, tao, tớ, qua, min… Tiếng Việt thời LM de Rhodes (phần 2)

Linh mục Alexandre de Rhodes và cuốn Phép Giảng Tám Ngày

Nguyễn Cung Thông[1]

>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách nói “xuống thuyền, trên trời, ra đời, Đàng Trong/Ngoài …” (phần 1)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách nói tôi, ta, tao, tớ, qua, min… (phần 2)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách dùng chớ (gì), kín … (phần 3)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách dùng đỗ trạng nguyên, trên/dưới… (phần 4)

Phần này bàn về các cách dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất vào thời linh mục (LM) Alexandre de Rhodes đến An Nam truyền đạo. Cách gọi đại từ nhân xưng với các ngôi chính là vết tích của truyền thống ngữ pháp La Tinh như sẽ thấy rõ hơn ở phần sau.

Bài này chú trọng đến cách dùng vào thời các giáo sĩ qua An Nam, chứ không phê bình cách phân loại này có chính xác hay không cho loại hình ngôn ngữ đặc biệt của tiếng Việt. Tiếp tục đọc “Cách nói tôi, ta, tao, tớ, qua, min… Tiếng Việt thời LM de Rhodes (phần 2)”

Hơn cả Việt Nam: Thời khắc đập tan sự im lặng

HUNTERS 04/04/2017

mlk_riverside

BookHunter: Vào ngày này, đúng 50 năm trước, Linh mục Martin Luther King đã phát biểu tại nhà thờ Riverside, thành phố New York để lên án chiến tranh tại Việt Nam. Đúng một năm sau đó, ngày 4 tháng 4 năm 1968, Martin Luther King đã bị ám sát. Ông là một nhà hùng biện với nhiều bài nói chuyện gây chấn động nước Mỹ cũng như toàn thế giới. Bài phát biểu “Beyond Vietnam: A time to break silence” là một trong số đó. Chúng tôi xin được lược dịch để giúp độc giả có thêm thông tin và góc nhìn về cuộc chiến diễn ra giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.  Tiếp tục đọc “Hơn cả Việt Nam: Thời khắc đập tan sự im lặng”

Hiệp Uớc Của Người Quân Tử – The Gentlemen’s Agreement

TĐH: Ngày 9 tháng 4 năm 2017 này là kỷ niệm 152 năm ngày Hiệp Ước Appomattox được ký kết, đưa đến sự chấm dứt cuộc nội chiến Nam Bắc của Mỹ và bắt đầu tiến trình hàn gắn vết thương chiến tranh. Đây là một vết son lớn trong lịch sử nước Mỹ. Hiệp Ước đầy nhân ái và thông minh này đã giúp nước Mỹ đoàn kết lại và phục hồi rất nhanh sau chiến tranh. Hai tướng, Robert E. Lee – tư lệnh quân đội miền Nam đầu hàng – và Ulysses S. Grant – tư lệnh quân đội miền Bắc chấp nhận đầu hàng, với sự tương kính cho nhau và lòng đeo đuổi hòa bình cho nước Mỹ, đã đạt được hiệp ước rất đơn giản nhưng kỳ diệu này, để ngày nay người ta gọi đó là “Hiệp Ước Của Người Quân Tử” (“The Gentlemen’s Agreement”).

Hai bài viết dưới đây — mô tả lại những trao đổi thư từ giữa hai tướng đưa đến cuộc họp, và cuộc họp cùng ký kết hiệp ước giản dị — sẽ giúp chúng ta hiểu tại sao người ta gọi là “Hiệp Ước Của Người Quân Tử”.

Sau phần tiếng Việt là phần nguyên bản tiếng Anh.

Đầu hàng tại Appomattox, 1865

Quân đội bị bao vây, chiến sĩ yếu và kiệt sức, tường Robert E. Lee hiểu rằng mình chẳng còn lựa chọn nào ngoài việc suy tính đến việc đầu hàng tướng Grant. Sau một chuỗi thư từ qua lại giữa hai tướng, họ đồng ý gặp nhau ngày 9 tháng 4, 1865, tại nhà của Wilmer Mclean trong làng Appomattox Court House. Cuộc họp kéo dài khoảng 2 tiếng rưỡi và khi cuộc họp kết thúc cuộc nội chiến đẫm máu nhất trong lịch sử của nước Mỹ được đến gần điểm chấm dứt. Tiếp tục đọc “Hiệp Uớc Của Người Quân Tử – The Gentlemen’s Agreement”

Echoes of war, seeds of hope

Harvardgazette

In visit to Vietnam, Faust stresses importance of remembrance in healing from conflict

March 23, 2017 | Editor’s Pick Popular
Drew Faust travels to Asia

Even decades after the Vietnam War, the United States and Vietnam are still surveying the conflict’s aftermath, seeking understanding and healing of wounds physical and spiritual, individual and widespread, Harvard President Drew Faust said today during a visit to the Southeast Asian nation. Tiếp tục đọc “Echoes of war, seeds of hope”

Cà phê Sài Gòn xưa

Thứ Sáu, 10 tháng 3, 2017
Nguồn: http://dinhvankhai.blogspot.com/2017/03/ca-phe-sai-gon-xua.html

Hồi xửa hồi xưa … có một Sài gòn người ta gọi cà phê là “cà phe”, đi uống cà phê là đi uống “cà phe” với giọng điệu rất là ngộ nghĩnh. Tiếng Tây gọi cà phê là Café, tiếng Anh là Coffee nhưng mấy xì thẩu Chợ Lớn thì gọi là “cá phé”. Vậy thì café, coffee, cà phê, cà phe hay là cá phé muốn gọi sao gọi nhưng ai cũng hiểu đó là món thức uống màu đen có hương vị thơm ngon, uống vào có thể tỉnh người nếu uống quá đậm có thể thức ba ngày không nhắm mắt…

Tiếp tục đọc “Cà phê Sài Gòn xưa”

World War II started in 1937 in Asia, not 1939 in Europe, says Oxford historian

Professor Rana Mitter tells Conversation With why the war began with Japan’s conflict with China, not when Germany invaded Poland in 1939, the date most history books use.

However, using recently-released documentation, Oxford University professor of history Rana Mitter argues that the real start of the global conflict was 1937 – when Japan attacked China in what has been called the Marco Polo Bridge incident, outside of Beijing.

Prof Mitter’s book, The Forgotten Ally, points out that the terrible eight-year-long conflict took a massive toll on China, with more than 14 million Chinese dead.

By comparison, military and civilian casualties for the US and United Kingdom combined totaled around 900,000. Tiếp tục đọc “World War II started in 1937 in Asia, not 1939 in Europe, says Oxford historian”

Ứng dụng hoa văn Đại Việt cho giải trí, du lịch

07:00 AM – 20/01/2017 TN

Các sản phẩm có ứng dụng hoa văn Đại Việt /// Ảnh: BTC cung cấp
Các sản phẩm có ứng dụng hoa văn Đại Việt ẢNH: BTC CUNG CẤP

Các đồ án hoa văn Đại Việt có thể tiếp sức cho các ngành công nghiệp sáng tạo, giải trí như điện ảnh, du lịch, mỹ thuật công nghiệp.

Những chiếc đĩa gốm men rạn, đĩa sứ men ngọc mang hoa văn nổi; bao lì xì, móc khóa có hình rồng; đĩa cá hóa rồng đúc đồng… đang được trưng bày trong triển lãm Hoa văn Đại Việt từ nay đến Tết Nguyên đán, tổng kết 2 năm những đồ án đó được nhóm Đại Việt cổ phong sưu tầm, tập hợp. “Tôi xem hoa văn ở trên mạng, sau đó đồ lại trên sản phẩm đúc đồng của mình. Đĩa có đường kính 33 cm, đã bán được với giá 15 triệu đồng”, ông Hoàng Văn Phi chia sẻ về một sản phẩm của mình. Tiếp tục đọc “Ứng dụng hoa văn Đại Việt cho giải trí, du lịch”

Phong Trào Việt Hóa Nhạc Trẻ Sài Gòn 60s-70s

nhactre_sg
 

Đọc về âm nhạc Việt Nam, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn “Phong Trào Việt Hóa Nhạc Trẻ Sài Gòn 60s-70s”, là một phong trào đã đóng góp cho nền âm nhạc Việt Nam một kho tàng nghệ thuật sáng tạo của các nhạc sĩ tiên phong từng làm mưa làm gió một thời ở nơi được mệnh danh là “La Perle De L’Extrême-Orient” (“The Pearl Of The Far East” – “Hòn Ngọc Viễn Đông”).

Nhạc Trẻ là một hiện tượng âm nhạc xuất hiện ở miền Nam Việt Nam vào đầu thập niên 1960s, ảnh hưởng bởi âm nhạc đương đại của Âu Châu và Mỹ Châu.

Nhạc kích động Âu Mỹ bắt đầu xâm nhập thị trường miền Nam vào cuối năm 1959. Giới trẻ, con của các thương gia và giới trưởng giả theo học chương trình Pháp thường nghe các loại nhạc kích động của Mỹ và Pháp. Phải đợi tới khoảng 1963-65, phong trào nghe nhạc kích động Tây phương bành trướng mạnh qua các buổi tổ chức khiêu vũ tại gia. Các danh ca của Hoa Kỳ như: Paul Anka, Elvis Presley, The Platters, của Anh như: Cliff Richard, The Shadows, The Beatles, The Rolling Stones, của Pháp như: Johnny Halliday, Sylvie Vartan, Françoise Hardy, Christophe, Dalida, vv…. là thần tượng của thanh niên nam nữ dưới 18 tuổi. Tiếp tục đọc “Phong Trào Việt Hóa Nhạc Trẻ Sài Gòn 60s-70s”