Xuất khẩu cà phê kỷ lục khiến Tây Nguyên cạn nước và người nghèo nghèo thêm

Tội nghiệp Tây Nguyên và anh chị em đồng bào thiểu số. 

Lượng xuất khẩu cà phê Việt Nam đang đứng thứ 2 thế giới, nhưng không có tăm tiếng trên thị trường thế giới vì Robusta chỉ được người ta mua để làm cà phê bột hòa tan. Trong khi đó, nước ngầm bị cạn kiệt, và nông dân nghèo không có đủ nước để sinh hoạt.

Và trong trường kỳ, rất có thể toàn Tây Nguyên không có đủ nước để trồng cà phê, đặc biệt với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

Hi vọng nhà nước thấy cái hại trường kỳ và tìm cách giải quyết vấn đề một cách khoa học và bình đẳng ngay từ bây giờ.

PTH

***

Xuất khẩu cà phê lập kỷ lục mới, hướng tới mốc 8 tỷ USD

VNEconomy – Chu Khôi, 20/10/2025, 10:33

Giữa bối cảnh nguồn cung cà phê toàn cầu khan hiếm và biến động mạnh, cà phê Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế khi xuất khẩu lập kỷ lục mới, đạt 7 tỷ USD chỉ trong 9 tháng và dự báo cả năm 2025 có thể cán mốc 8 tỷ USD. Đây là con số cao chưa từng có trong lịch sử ngành cà phê Việt Nam…

Kim ngạch xuất khẩu cả năm 2025 có thể vượt 8 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu cả năm 2025 có thể vượt 8 tỷ USD.

Tiếp tục đọc “Xuất khẩu cà phê kỷ lục khiến Tây Nguyên cạn nước và người nghèo nghèo thêm”

Ở Việt Nam, người Hoa là bậc thầy kinh doanh

“Dù người Việt sống cạnh người Hoa cả mấy ngàn năm nay, và dù một số người Hoa trở thành người Việt, người Việt vẫn chưa học được cách làm ăn buôn bán và cách sống chung với nhau của người Hoa.” [trích Bí quyết thành công của người Hoa (PTH)].

Mong người Việt chúng ta biết cúi đầu trước thầy.

PTH

  • Bí quyết thành công của người Hoa (PTH)
  • Phía sau sự thành công trong kinh doanh của người Hoa (Báo Dân tộc)

***

Tiếp tục đọc “Ở Việt Nam, người Hoa là bậc thầy kinh doanh”

Cô bé trên mái nhà sàn

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Truyện ngắn

Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh – tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…

Tiếp tục đọc “Cô bé trên mái nhà sàn”

Khi rừng cộng đồng chưa thực sự thuộc về cộng đồng

Với anh chị em đồng bào thiểu số ở rừng núi của chúng ta, rừng là cha, là mẹ và là đấng rất mực thiêng liêng. Có lẽ không có ai hiểu rừng và yêu rừng bằng họ. Mấy ngàn năm nay, con cháu của 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi đã duy trì danh tiếng gìn giữ và phát triển rừng rất tốt. 

Nay chúng ta đã có luật để cộng đồng (dân tộc thiểu số) làm chủ rừng, thì hãy để cộng đồng làm chủ rừng thật sự, thay vì “cộng đồng làm chủ, Nhà nước quản lý”, và Nhà nước cho doanh nghiệp phá rừng làm “dự án” mà không hỏi ý kiến của cộng đồng chủ.

Các cộng đồng dân tộc thiểu số đã là chủ rừng mấy ngàn năm nay, vậy chúng ta hãy tôn trọng truyền thống lâu đời đó.

PTH

  • Vi Chring: Khi rừng cộng đồng chưa thực sự thuộc về cộng đồng
  • Làm gì để cộng đồng thực sự thành chủ rừng, được hưởng lợi từ rừng?
  • Nhìn lại mô hình cộng đồng tham gia quản lý rừng:
    Bài 1: Hiệu quả từ sự chung tay
    Bài 2: Nhiều vướng mắc trong giao rừng

***

Vi Chring: Khi rừng cộng đồng chưa thực sự thuộc về cộng đồng

nature.org – 15/10/2020

Vi Chring - khi rừng cộng đồng chưa thực sự thuộc về cộng đồng -  ThienNhien.Net | Con người và Thiên nhiên

Từ năm 2007, cộng đồng thôn Vi Chring (xã Hiếu, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum) được giao quản lý, bảo vệ 808 ha rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Gần 15 năm trôi qua, họ đã bỏ ra không ít công sức miệt mài canh giữ với niềm tin sẽ được hưởng lợi từ rừng. Thế nhưng, bên cạnh một số hỗ trợ tài chính từ các dự án phi lợi nhuận và từ chính phủ, nhân dân thôn Vi Chring vẫn chưa được khai thác bền vững để thực sự hưởng lợi từ rừng.

Trong khi đó, việc thu hồi 9,87 ha rừng cộng đồng Vi Chring để xây dựng đường dây 500 kV mạch 3 đã cho thấy số phận mong manh của các khu rừng cộng đồng. Một mặt, người dân không được tiếp cận với phần gỗ vốn thuộc về họ được khai thác từ hành lang an toàn điện, nhưng mặt khác, một doanh nghiệp lại được giao tận thu gỗ, để rồi ngang nhiên tận thu cả vào phần rừng nằm ngoài phạm vi cho phép.

Tiếp tục đọc “Khi rừng cộng đồng chưa thực sự thuộc về cộng đồng”

Thiếu hụt bác sĩ ở vùng sâu, vùng xa

Không phải vùng sâu vùng xa thiếu chuyên gia chăm sóc sức khỏe. Anh chị em đồng bào thiểu số của chúng ta bao ngàn năm nay vẫn có chuyên gia chăm sóc sức khỏe cho họ, chỉ là người Kinh chúng ta không công nhận trí tuệ của họ mà thôi.

Với người Kinh, Tây y (và Đông y) là đỉnh cao trí tuệ. Thế nên những Êđê y, Dao Đỏ y, Chăm y… đều là thuộc dạng mà “bác sĩ” Kinh ta lắc lắc đầu: “Đây là vấn đề sống chết, không thể bừa phứa được”.

Nhà nước hãy để già làng/ trưởng bản công nhận những người trong thôn/ xóm/ bản làng có khả năng chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho cả cộng đồng đó.

Hãy tôn trọng cách sống của anh chị em đồng bào mình, đồng thời giúp cho nền y học của nước nhà được phong phú hơn.

PTH

***

Đồng Nai thiếu bác sĩ

SGGPO – 06/08/2025 16:25

Ngành Y tế tỉnh Đồng Nai đang đối mặt với tình trạng thiếu nguồn nhân lực y tế, nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa và biên giới. Do đó, địa phương có nhiều chính sách đào tạo, hỗ trợ và thu hút y bác sĩ về cơ sở y tế làm việc, nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và chăm lo sức khỏe người dân.

Tiếp tục đọc “Thiếu hụt bác sĩ ở vùng sâu, vùng xa”

Kỳ thị và xâm phạm truyền thống văn hoá của các tộc người theo mẫu hệ

Tóm lại, ở các tộc người ấy vì nam giới “không có quyền, nên không có trách nhiệm”. Cho nên, những bà vợ của họ “càng có quyền càng khổ”. Lối giải thích này tạo một ấn tượng sai lạc rằng trong các cộng đồng mẫu hệ thì “chị em ta” là nhất, “bọn đàn ông” chẳng có ký lô nào! Tai hại hơn, nó biến những người đàn ông thiếu ý thức trách nhiệm, bê tha rượu chè, làm khổ vợ con thành những người đáng được cảm thông, và biến chế độ mẫu hệ thành kẻ tội đồ!

Trong khi sự thật là dù trong chế độ mẫu hệ hay phụ hệ thì quan hệ, đời sống và hạnh phúc gia đình tốt hay xấu, trước hết là do ở con người. Nếu nói trong chế độ mẫu hệ giới đàn ông vì “không có quyền nên không có trách nhiệm” thì chẳng lẽ dưới chế độ phụ hệ, tất cả đàn ông, với quyền lực trong tay, đều rất có tinh thần trách nhiệm đối với cuộc sống gia đình?

Với những cách hiểu, cách giải thích, cách đánh giá như vậy, sẽ không phải là điều lạ nếu có ai đó trong những người hoạch định, thừa hành pháp luật, chính sách có ác cảm và có cách đối xử sai lầm đối với chế độ mẫu hệ của các tộc người thiểu số. Chẳng thế mà trong Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số, người ta đã đưa tập quán “Người con bị bắt buộc phải mang họ của người mẹ” của chế độ mẫu hệ vào danh mục “Các phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình cần vận động xoá bỏ” (Phụ lục B).

Theo chúng tôi, dù chỉ là “vận động xoá bỏ” chứ không phải là “nghiêm cấm”, quy định đó cũng thể hiện một cái nhìn kỳ thị và xâm phạm truyền thống văn hoá của các tộc người theo mẫu hệ.

(Trích Nam quyền trong chế độ mẫu hệ ở Việt Nam)

  • Nam quyền trong chế độ mẫu hệ ở Việt Nam
  • Danh mục các tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình

Tiếp tục đọc “Kỳ thị và xâm phạm truyền thống văn hoá của các tộc người theo mẫu hệ”

Nhức nhối lựa chọn giới tính thai nhi

Nhức nhối lựa chọn giới tính thai nhi

  • Kỳ 1: Nhiều bệnh viện lớn công khai làm trái luật
  • Kỳ 2: Điểm mặt các ‘trùm’ môi giới
  • Kỳ 3: Xuất ngoại ‘săn’ con trai

***

TT – 13/01/2025 10:25 GMT+7

Nhức nhối lựa chọn giới tính thai nhi – Kỳ 1: Nhiều bệnh viện lớn công khai làm trái luật

THU HIẾN, TRÚC QUYÊN, ĐAN THUẦN

19 năm qua (từ năm 2006), chênh lệch giới tính khi sinh ở Việt Nam vẫn ở mức rất cao, có năm 114 bé trai/100 bé gái. Và bình quân mỗi năm Việt Nam có gần 46.000 thai nhi gái không được chào đời, theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA).

Người Việt ra cả nước ngoài để chọn giới tính thai nhi. Trong ảnh: bác sĩ của một bệnh viện ở Thái Lan tư vấn, mô phỏng quy trình thực hiện IVF lựa chọn giới tính thai nhi – Ảnh: TRÚC QUYÊN

Nhóm phóng viên Tuổi Trẻ đã có nhiều ngày vào Nam ra Bắc, sang tận Thái Lan – nơi được những tay môi giới lựa chọn giới tính thai nhi gọi là “trung tâm công nghiệp tạo ra con người” – để tìm câu trả lời cho câu hỏi: Vì sao chênh lệch giới tính khi sinh ở Việt Nam vẫn ở mức cao đáng báo động?

Tiếp tục đọc “Nhức nhối lựa chọn giới tính thai nhi”

Những nghiên cứu về chính sách di dân ở Việt Nam

Bộ Y Tế – Cục Dân Số

Để thực hiện mục tiêu chiến lược phân bố dân số phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội đất nước và củng cố quốc phòng, ngay từ những năm 1960 của thế kỷ trước, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm phân bố lại dân cư và lao động trong cả nước bằng những chính sách cụ thể như: chính sách vận động nhân dân đi xây dựng kinh tế mới, chính sách định canh định cư ổn định di dân tự do, chính sách di dân ổn định biên giới… Gần đây nhất là các chính sách di dân để phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mục tiêu dân sinh trên một số địa bàn miền núi, vùng sâu, biên giới, để vừa đảm bảo cho khai hoang phát triển kinh tế, vừa đảm bảo mục tiêu quốc phòng, an ninh. Đánh giá tình hình thực hiện các chính sách di dân của Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, đã có một số công trình nghiên cứu, các ấn phẩm, bài viết về thực hiện chính sách di dân.

Các nghiên cứu về chính sách di dân


1. Các nghiên cứu về tình hình thực hiện chính sách di dân xây dựng kinh tế mới, di dân định canh định cư, di dân ổn định biên giới.
Một trong những nghiên cứu đề cập khá toàn diện đến chính sách di dân là công trình của Đặng Nguyên Anh về Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội ở các tỉnh miền núi [1]. Trong nghiên cứu này, tác giả đã đi sâu tìm hiểu các loại hình di dân nổi bật ở miền núi trong những năm 1990, bao gồm di dân kinh tế mới, định canh, định cư di dân tự do và di dân ổn định biên giới, chỉ ra thực chất của các loại hình di dân này là loại hình di dân nông thôn – nông thôn. Đặc biệt là nghiên cứu đã đánh giá tổng quan về các chính sách di dân trên ba loại hình, phân tích những mặt được và chưa được trong chủ trương chính sách đối với các loại hình di dân nêu trên. Nhấn mạnh mặt được lớn nhất của chính sách di dân là phân bố lại lao động – dân cư, giãn dân đến những vùng vắng dân, thưa dân, vùng còn nhiều tài nguyên đất để phát triển kinh tế, đảm bảo quốc phòng, an ninh, biên giới. Đồng thời chỉ ra mặt hạn chế của chính sách là nhiều quy định của chính sách đã bộc lộ sự bất cập, ít khả thi như chính sách di dân kinh tế mới với quy mô đầu tư dàn trải, thiếu đồng bộ, mang tính bình quân và chưa tính đến những đặc trưng riêng của từng vùng. Công tác định canh định cư mặc dù được lồng ghép trong các chính sách hỗ trợ cho miền núi song chưa đem lại hiệu quả như mong muốn, chưa góp phần ổn định đời sống của đồng bào tộc người thiểu số ở các tỉnh miền núi.


Quá trình đánh giá thực trạng, kiểm định hiệu quả của các chính sách di dân đối với các loại hình di dân, tác giả đã đi sâu phân tích, đánh giá đặc điểm chủ yếu của các cộng đồng di dân, dựa trên kết quả khảo sát mẫu của đề tài với 7 tỉnh tại miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Kết quả cho thấy, người di cư có cuộc sống tương đối ổn định và có mục đích di cư lâu dài, ổn định cuộc sống. Tuy có sự khác nhau giữa các địa phương trong nội dung các chính sách di dân và định hướng phát triển kinh tế – xã hội, song mức độ hiểu biết về chính sách của người dân địa phương và nhận thức của cán bộ quản lý còn nhiều hạn chế. Khả năng tiếp cận được các chính sách hiện hành phụ thuộc rất nhiều vào công tác thông tin, tuyên truyền và sự triển khai thực hiện đến người dân bằng các lợi ích cụ thể, dù dưới loại hình di dân nào. Vì vậy, việc xây dựng và thực hiện một hệ thống chính sách đồng bộ và hiệu quả, phù hợp với tình hình di dân và điều kiện phát triển kinh tế – xã hội ở các tỉnh miền núi hiện nay là rất cần thiết.

Tiếp tục đọc “Những nghiên cứu về chính sách di dân ở Việt Nam”

Nghĩ về tên xứ sở từ một cây cầu gần nhà [Những địa danh Khmer xưa ở miền Nam còn tồn tại đến ngày nay]

PHẠM HOÀNG QUÂN 04/05/2025 10:14 GMT+7

TTCTNhững cái tên thân thương gắn với làng xóm xứ sở không chỉ có của người Kinh, và dứt khoát là không chỉ có tên Hán – Việt.

Cầu Á Rặt bắc qua rạch Á Rặt, ấp Mỹ Long, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè, Tiền Giang. Ảnh: Tư liệu PHQ

Tôi sống ở xứ Cái Bè, vốn là một trong những địa bàn người Việt đến định cư sớm nhứt ở Nam Bộ, vẫn thấy đây đó nhiều tên sông rạch khó hiểu. 

Tiếp tục đọc “Nghĩ về tên xứ sở từ một cây cầu gần nhà [Những địa danh Khmer xưa ở miền Nam còn tồn tại đến ngày nay]”

How the climate crisis fuels gender inequality

The climate crisis may be a collective problem, but its impacts do not fall equally. Women and girls often bear the heaviest burdens.

November 30, 2023

Editor’s note

This story is part of As Equals, CNN’s ongoing series on gender inequality. For information about how As Equals is funded and more, check out our FAQ.

Climate change acts as a threat multiplier, finding existing injustices and amplifying them. Women and girls already grapple with gender inequality, but when extreme weather devastates a community, the UN found that inequalities worsen: Intimate partner violence spikes, girls are pulled from school, daughters are married early, and women and girls forced from their homes face a higher risk of sexual exploitation and trafficking.

“When we look at who’s affected worse, who’s on the frontlines of the climate crisis, it’s primarily women — women in poor and vulnerable countries,” Selwin Hart, UN Special Adviser to the Secretary-General on Climate Action and Just Transition, told CNN. “And unfortunately, our policies or strategies are really not geared to address this challenge.”

To explore the complex links between gender and climate change, CNN worked with seven women photojournalists who spent time with women and girls in seven countries across the Global South to document the challenges they face.

This visual project gives a snapshot of the myriad ways the human-induced climate crisis is upending their lives, but also shows how they are fighting back. Every image shows both struggle and survival, the battle to live a decent life in a swiftly changing climate.

Girls’ education in Nigeria

The Center for Girls’ Education runs a series of programs in Nigeria to help girls stay in school. One in every five of the world’s children who are out of school is in Nigeria, according to UNICEF, and it is girls who are impacted the most.

Photographs by Taiwo Aina for CNN

More than 10 million children between 5 and 14 years old are absent from classrooms across Nigeria, according to UNICEF. For girls, the statistics are even bleaker: In states in the northeast and northwest of the country, fewer than half attend school.

This education crisis is the result of a tangle of factors, including poverty, geography and gender discrimination, the UN agency adds. But against the backdrop of these individual factors is the broader context of the climate crisis.

Nigeria is growing hotter and dryer, and extreme weather such as flash floods and landslides are becoming fiercer and more frequent. Climate disasters can make schools inaccessible and classrooms unsafe. Communities struggling to cope with extreme weather sometimes turn to their children to help or to earn extra money to support the family. And girls, whose attendance at school is already discouraged in some communities, are often most affected.

For every additional year the average girl attends school, her country’s resilience to climate disasters can be expected to improve by 3.2 points on an index that measures vulnerability to climate-related disasters, according to estimates from the Brookings Institution.

There are efforts to support girls’ education and equip them with the resources to cope with a fast-changing climate. The Center for Girls’ Education in the northern Nigerian city of Zaria runs programs to help girls stay in school and offers training on how to cope with the impacts of extreme weather.

“I feel when we give the girls education on climate change, how to mitigate it, it will go a long way in helping the girls in how to support themselves in times of difficulties, and even help them prepare for it,” said Habiba Mohammed, director of the Center for Girls’ Education.

Asiya Sa’idu, 17

Tiếp tục đọc “How the climate crisis fuels gender inequality”

Nói KHÔNG với kết hôn sớm – Bộ phim về tảo hôn

Plan International Vietnam – 29-1-2024

Sanh chưa bao giờ nghĩ mình sẽ kết hôn khi mới chỉ lớp 9. Như bao bạn gái khác tại địa phương, cuộc sống sau hôn nhân của em có vô vàn trắc trở. Con của Sang không có giấy khai sinh, khi ốm đau cũng không đưa đi bệnh viện được mà chỉ ở nhà sử dụng thuốc Nam.

Nhưng Sanh vẫn tiếp tục hỗ trợ cho cộng đồng nơi em sinh sống. Là một nhà truyền thông tài ba, Sanh chia sẻ câu chuyện của mình tại những buổi sinh hoạt tại xã, tại trường để lan tỏa thông điệp nói không với tảo hôn và sống trọn vẹn với tuổi trẻ đáng giá của mình.

Dân bản ‘phất’ lên nhờ làm YouTuber

VNE – Chủ nhật, 2/2/2025, 00:07 (GMT+7)

Tuyên Quang – 9h sáng, thống nhất xong kịch bản với người em họ được giao quay phim, Trúc Thị Mụi cùng chồng Hà Tòn Chài vác dụng cụ ra đồng.

Trúc Thị Mụi (áo xanh), 31 tuổi, ở bản Khau Cau, xã Phúc Yên, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang cùng chồng Hà Tòn Chài (áo sọc đen) làm YouTube về cuộc sống vùng cao, tháng 1/2024. Ảnh: Nga Thanh

Cặp vợ chồng 31 tuổi ở bản Khau Cau, xã Phúc Yên, huyện Lâm Bình là chủ kênh YouTube với 108.000 người theo dõi. Nội dung tập phim hôm nay quay cảnh vợ chồng Mụi bắt cua trong khe suối để bán ở chợ phiên, lên rừng hái rau củ và nấu cơm trưa.

Khi người quay phim giơ tay đếm “3,2,1” và bấm máy, vợ chồng Mụi bắt đầu hoạt động. Hai người cố gắng không trò chuyện để thu được rõ cả tiếng chim chóc, suối chảy. Quen với ống kính và biết cách diễn họ chỉ tốn vài phút cho một cảnh quay. Các động tác dùng vợt bắt cua, rửa sạch, đổ vào thúng được làm nhanh gọn.

Tiếp tục đọc “Dân bản ‘phất’ lên nhờ làm YouTuber”

Giáng sinh của những đứa trẻ xa nhà

VNE – Thứ tư, 25/12/2024, 12:07 (GMT+7)

Đầu tháng 12, khi bạn bè tại Nhà nội trú sắc tộc Hoà Bình (phường Long Phước, thị xã Phước Long, Bình Phước) háo hức kết vòng hoa, làm hang đá đón Giáng sinh, K’Ngôl lại nhớ về lời hứa của bố. Đúng ngày Giáng sinh năm 2021, bố hứa sẽ đón K’Ngôl về ở cùng khi cậu lên lớp 7, tức năm nay.

Cậu bé đếm từng ngày đến đêm Giáng sinh.

Tiếp tục đọc “Giáng sinh của những đứa trẻ xa nhà”

Đường xa về nhà

plan-international.org

(Click vào đây để đọc bản tiếng Anh)

Bị kéo về làm vợ ngoài ý muốn khi mới 12 tuổi, Đan* quyết tâm bỏ trốn, trở về nhà và tiếp tục con đường học tập. Nhưng hành trình trở về nhà, trở về với cuộc sống của chính em đầy những gian nan thách thức.

Đan đi bộ tới trường. © Plan International

“Em đi bộ từ sáng sớm đến 4 giờ chiều, đi hết quãng đường 20km để trốn khỏi nhà chồng” – Đan* rơi nước mắt khi kể lại hành trình ba lần thoát khỏi nhà chồng khi mới 12 tuổi.

Tiếp tục đọc “Đường xa về nhà”