The plaintiffs, who range in age from 5 to 22, successfully argued that the state’s refusal to consider climate change impacts before supporting fossil fuel development violated their right a clean environment under the Montana state constitution. Their lawsuit was the first to reach trial among several similar cases in the United States and is likely to bolster other actions seeking to use the legal system to force action on curbing emissions.
VHO- Có thể nói, hòn Trống Mái nằm ngay ở ví trí trung tâm của di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, là biểu tưởng du lịch nổi tiếng trong nước và quốc tế của vùng đất này, nhưng lại đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ đổ, trượt nếu chính quyền, cơ quan chức năng sở tại không có ngay giải pháp bảo tồn cấp thiết.
Hòn Trống Mái được giới chuyên gia cảnh báo có nguy cơ cao bị gãy, trượt
Cuộc hội thảo góp ý cho Báo cáo tổng kết và các sản phẩm chính của nhiệm vụ khoa học công nghệ “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và các yếu tố ảnh hưởng làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn hòn Trống Mái, vịnh Hạ Long” diễn ra từ hồi cuối tháng 7 vừa qua, tuy nhiên cho đến nay theo tìm hiểu của chúng tôi, các bên liên quan vẫn chưa có những động thái mạnh mẽ cho vấn đề “cấp cứu” biểu tượng có một không hai của di sản vịnh Hạ Long.
Còn nhớ vào cuối năm ngoái, chúng tôi cùng đoàn chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau có chuyến tham quan vịnh Hạ Long, và một trong những điểm đến là hòn Trống Mái. Cơ duyên đưa đến địa điểm này không hề xuất phát từ sự tò mò hay chụp ảnh lưu niệm vì biểu tượng này đã nằm lòng trong sự yêu thích của biết bao du khách, mà trong đoàn có một chuyên gia về địa chất mong muốn mọi người có cái nhìn thực địa ở khoảng cách gần nhất có thể để nhận diện rõ hơn về sự ăn mòn đáng sợ đối với “hai chân” của hòn Trống Mái. Bằng con mắt chuyên môn, vị chuyên gia về địa chất đã cảnh báo rằng, với tốc độ xâm thực và bào mòn của sóng, gió và tác động của con người như hiện nay, chẳng bao lâu nữa độ kết cấu “hai chân” của hòn Trống Mái sẽ bị cưa đứt. Tại thời điểm đó có người nói đùa rằng, hòn Trống Mái đang đứng trên hai “que tăm” bởi trông nó rất chênh vênh, chung chiêng nhất là khi những đợt sóng cao ập vào. Vị chuyên gia còn nói thêm, cũng đã nhiều lần lên tiếng cảnh báo qua mối quan hệ công việc nhưng nhìn chung chưa mấy ai tin, hoặc nhận được câu trả lời đại loại như “trông thế thôi, nó còn vững chãi lắm”.
Southern Vietnam is the country’s food bowl. But water shortages are driving Mekong Delta farmers to despair, with many of them opting to move to other provinces to find work. Read: https://cna.asia/3ViZLjr
This report aims to contribute to growing conversations about coal finance mechanisms, particularly as they move from concept to reality. RMI believes that financial mechanisms can be a transformational tool in coal transition efforts—but only if implemented well. Ultimately, the devil will be in the detail as to how financial mechanisms are designed and governed to meet the critical needs of all stakeholders and help deliver a rapid and smooth pathway to a climate-safe future.
RMI’s report, Financing the Coal Transition, shows how financial mechanisms can complement policy and regulation to help achieve a rapid, equitable, and smooth coal transition.
The economics of power generation are shifting rapidly in favor of clean energy, challenging coal’s long history as a mainstay of economic development throughout the world. However, much more work needs to be done to transition the existing coal fleet in line with climate and development goals.
The privileged place coal has occupied in power generation for over a century has entrenched complex barriers—from the way that grids have been built to the incentive structures within electricity systems—that prevent markets from catching up to the economic trend toward clean energy. In the absence of solutions to address these barriers, the costs of uneconomic coal will fall largely on local communities through direct costs and unpriced impacts on local health and the environment.
The global community needs new solutions to address the social and economic complexities of the coal transition while responding to the urgency of the climate challenge. One set of solutions currently under development are the innovative financial mechanisms designed to support the transition from coal to clean energy.
This report helps make sense of the various financial mechanisms proposed to date, and models the impacts of using different financial mechanisms to transition existing coal power plants. While it finds that financial mechanisms have the potential to generate wins for both the climate and communities, it also recognizes the risks of using finance to support the coal transition. To manage these risks, RMI proposes five key principles to guide the design of credible financial mechanisms.
Five key principles to guide the design of financial mechanisms for coal transition
The climate crisis has begun to disrupt human societies by severely affecting the very foundations of human livelihood and social organisation. Climate impacts are not equally distributed across the world: on average, low- and middle-income countries suffer greater impacts than their richer counterparts. At the same time, the climate crisis is also marked by significant inequalities within countries. Recent research reveals a high concentration of global greenhouse gas emissions among a relatively small fraction of the population, living in emerging and rich countries. In addition, vulnerability to numerous climate impacts is strongly linked to income and wealth, not just between countries but also within them.
The aim of this report is twofold. It endeavours first to shed light on these various dimensions of climate inequality in a systematic and detailed analysis, focusing on low- and middle-income countries in particular. It then builds on these insights, together with additional empirical work and interviews with experts, to suggest pathways to development cooperation,and tax and social policies that tackle climate inequalities at their core.
Can progressive carbon taxes help alleviate poverty?
With unsustainable industrial development and unfettered capitalism driving climate change, it is no surprise that income inequality and carbon inequality are intrinsically linked. The latest report from the Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC) highlights the indisputable inequitable human impacts of climate change. Can climate policy interventions like carbon taxes address the complex and interconnected nature of global warming and wealth?
More money, more carbon
Research shows that the richest 1% are responsible for twice as much carbon pollution as the poorest half of humanity. Yet those living in low-income areas and who are already facing the multidimensional burdens of poverty will bear the brunt of the impacts of climate change.
The 2022 World Inequality report further emphasises the notion of “carbon inequality”, finding that global greenhouse-gas (GHG) emissions are concentrated amongst a small percentage of people: the top 10% of emitters are responsible for close to 50% of GHG emissions. As the findings show, this is not necessarily a “rich” vs “poor” country problem, as there are high emitters across all regions. Those high emitters, however, are almost always part of a high-income earning bracket.
If carbon taxes are effectively redistributed, they can fund policies that address both the social and environmental implications of climate change.
Can progressive carbon taxes help tackle carbon and income inequality?
Instruments like carbon taxes are essential to curbing emissions—something The Economist has argued for years. Some believe, however, that these types of policy interventions can be regressive, and end up disproportionately burdening low-income communities and small businesses while allowing richer, high-emitting individuals and corporations to continue to pollute—as long as they can pay. These concerns sparked the now infamous 2018 “yellow vest” protests in Paris.
Fortunately, if carbon taxes are effectively redistributed, they can fund policies that address both the social and environmental implications of climate change. Analysis shows that if every country adopted a uniform global carbon tax and returned revenues to citizens on an equal per-capita basis, it is possible to limit global warming to 2 degrees celsius by 2100 above pre-industrial levels. This type of redistributive carbon tax would also increase wellbeing, reduce inequality and could alleviate poverty across the world.
“Quan điểm là chắc chắn không thể đánh đổi và thực hiện như tỉnh Thái Bình đang làm được. Bởi khu vực này nằm trong nhiều chương trình liên quan đến ứng phó với biển đổi khí hậu theo Nghị quyết 102 của Quốc hội, và được nhiều tổ chức quốc tế đầu tư vào đây”.
Ông Đoàn Hoài Nam – Trưởng phòng Quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ (Cục Lâm nghiệp)
TP – Đại diện Cục Lâm nghiệp – Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết, việc điều chỉnh quy hoạch ở khu vực Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải cần sự đồng thuận của các bộ, ngành. Tuy nhiên, sau khi gửi văn bản mang tính chất thông báo, UBND tỉnh Thái Bình lại im lặng không phản hồi và tự ra quyết định thay đổi quy hoạch khiến bộ hết sức ngỡ ngàng.
Trao đổi với PV Tiền Phong, ông Đoàn Hoài Nam – Trưởng phòng Quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ, Cục Lâm nghiệp – cho biết, khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải, một trong hai vùng lõi của khu Dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng và được UNESCO công nhận là một trong những vùng lõi quan trọng của khu dự trữ sinh quyển thế giới.
Tiếp tục đọc “Vụ thu hẹp khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải: ‘Không thể đánh đổi như Thái Bình’”→
The ruling, the first of its kind, is reverberating worldwide, especially among young climate activists. But it still faces hurdles.
Plaintiffs in the landmark Held v. Montana climate change lawsuit arrive at the Lewis and Clark County Courthouse on June 12 in Helena, Mont. (Robin Loznak/AFP/Getty Images)
Mặc dù đã có nhiều chấn chỉnh từ chỉ đạo cho đến việc sửa đổi quy định liên quan nhưng sau 5 năm, nguy cơ mất rừng bởi các dự án phát triển kinh tế vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.
Hiện nay, cả nước đang rà soát và điều chỉnh lại quy hoạch 3 loại rừng, gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất. Một nhà khoa học ngành lâm nghiệp đang tham gia quá trình này ở nhiều tỉnh thành đã thốt lên: “Chúng ta cần nhìn thẳng và chấp nhận sự thật là diện tích rừng hiện không còn bao nhiêu!”.
Ông cho biết thực tế có những tỉnh sau khi rà soát, diện tích rừng được gọi đúng khái niệm rừng(*) chỉ còn khoảng 1/3 diện tích so với con số báo cáo. Nhiều diện tích đất rừng từ lâu người dân đã làm rẫy, xâm canh, trồng hoa màu, cây công nghiệp… Thậm chí, có tỉnh để đạt được mục tiêu độ che phủ rừng đề ra của địa phương mà lấy cả diện tích rừng ngoài quy hoạch, tức đất nông nghiệp đang trồng các loại cây công nghiệp lâu năm như keo lá tràm của người dân đưa vào quy hoạch 3 loại rừng.
Nước lên đem đất phù sa vào làm cho ruộng đất tốt thêm, cá theo nước vào hồ, có hàng ức triệu con, để nhân dân chài lưới mà sinh nhai. Dân Cao Miên giàu về nghề đánh cá. Nước tràn vào các khu rừng gần hồ, mênh mông như biển, ngập cả cây cối.
Mùa ấy gọi là “mùa cá lên ngàn“. Trong khi ấy thì không gì thú bằng một con thuyền đủng đỉnh dạo chơi trên mặt nước.
(Trích Quốc văn Giáo khoa thư)
Giải nghĩa. – Đất phù sa = đất sông bồi lên.
Đoạn văn trên đây tôi được học cách đây hơn nữa thế kỷ, lúc đó còn nhỏ, chỉ biết các dòng nước không trong xanh như trong hình ở sách giáo khoa, vì lẽ sông Tiền, sông Hậu của quê hương tôi, màu nước lúc nào cũng đục, màu của bùn, đất, cát ..của phù sa chảy theo dòng nước… phù sa trôi dạt và bám thành những giồng đất vườn quanh năm cho chúng tôi trái ngọt, những cánh dồng do phù sa bồi đắp cho chúng tôi những cánh đồng bát ngát lúa vàng óng ánh, những cành lúa nặng trĩu những hạt lúa no tròn, thơm lừng trong chén cơm hàng ngày của người nông dân cần cù chất phát của vùng đất do phù sa bồi đắp mà Ông Cha đã dầy công dựng nên trong tiến trình mở nước về phương Nam: Đồng Bằng Sông Cửu Long.
While farming continues to drive deforestation around the world, 60% of the destruction of Earth’s large, intact forests is caused by other forces. In particular, our research shows that more than one-third of this destruction can be blamed on the production of commodities for export, particularly timber, minerals and oil and gas.
Increasing global demand for these commodities, which are often exported through globe-spanning supply chains, explains much of the ongoing removal, degradation and fragmentation of intact forests in a handful of countries including Brazil, Canada, the Democratic Republic of Congo and Russia.
We define intact forest landscapes (IFLs) as seamless mosaics of forest and related habitats bigger than 500km² where there is no detectable sign of activities such as logging, mining or energy extraction. Although IFLs made up 20% of the world’s remaining tropical forest in 2020, they stored 40% of all the carbon held in these habitats. Since 2000, the global extent of IFLs has shrunk by 7.2%, a loss of 1.5 million km² – more than quadruple the area of Germany.
Cảng Trần Đề diện tích 5.400 ha, mức đầu tư giai đoạn đầu hơn 33.700 tỷ đồng, có thể tiếp nhận tàu trên 100.000 DWT (tương đương 100.000 tấn) được kỳ vọng sẽ giúp Đồng bằng sông Cửu Long “thoát nghèo”.
Ngày 9/8, tại Hà Nội, Ban chỉ đạo Tổng kết Nghị quyết số 24-NQ/TW (Ban chỉ đạo) đã tổ chức Hội thảo khu vực miền Bắc tổng kết Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Ông Nguyễn Duy Hưng, Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương – Phó trưởng Ban chỉ đạo và Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Võ Tuấn Nhân đã chủ trì Hội thảo.
Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Võ Tuấn Nhân phát biểu tại hội thảo
Tham dự có ông Nguyễn Tuấn Anh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội; bà Ramla Al Khalidi, Trưởng Đại diện thường trú của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam; ông Miachael Siegner, đại diện Viện Hanns Seidel Foundation; cùng hơn 100 đại biểu đến từ các Bộ/ngành, các tổ chức quốc tế, 25 tỉnh/thành khu vực miền Bắc, các Viện nghiên cứu, các chuyên gia và nhà khoa học.
Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương được ban hành ngày 3/6/2013 tại Hội nghị lần thứ 7 khóa XI. Nghị quyết đã đề ra những quyết sách lớn của Đảng trong ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH), quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường ở nước ta. Sau 10 năm thực hiện, Ban cán sự đảng Bộ TN&MT được giao chủ trì, chuẩn bị trình Bộ Chính trị Đề án Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW. Quá trình tổng kết đã được triển khai sâu rộng từ các Đảng ủy, Đảng đoàn, Ban cán sự đảng ở Trung ương đến các Tỉnh ủy, Thành ủy ở các địa phương.
Phát biểu tại hội thảo, Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Duy Hưng cho biết: Nghị quyết 24 là căn cứ chính trị đặc biệt quan trọng, đưa ra các chủ trương đường lối của Đảng một cách toàn diện, đồng bộ trong các lĩnh vực theo 3 nhóm chủ đề: ứng phó biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường.
TTO – Khoảng 40% dân số thế giới sống ven biển và có nguy cơ bị bão tố, sóng thần tấn công. Một vũ khí hữu ích để chống đỡ bão tố và sóng thần chính là rừng ngập mặn.
Siêu bão Odette tàn phá thị trấn Del Carmen vào tháng 12-2021 – Ảnh: AFP
Rừng ngập mặn không chỉ ngăn sạt lở mà còn trở thành tấm khiên hóa giải tác động của sóng bão. 1km rừng ngập mặn có thể giảm 70% sức mạnh sóng thần và trữ bốn lần khí carbon hơn rừng nhiệt đới. – CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA LIÊN HIỆP QUỐC
Sống sót sau cuồng phong bão táp
Thị trấn nhỏ Del Carmen tọa lạc trên đảo Siargao (tỉnh Surigao del Norte) ở miền nam Philippines. Với dân số hơn 20.000 người, mỗi năm thị trấn đón tiếp hơn 200.000 du khách.
Ngoài du lịch, người dân còn sống nhờ nông nghiệp và đánh cá. Do vị trí đầu sóng ngọn gió nhìn ra Thái Bình Dương, thị trấn thường xuyên đương đầu với bão tố, triều cường, nước biển dâng.
Trung tuần tháng 12-2021, siêu bão Odette (tên quốc tế là bão Rai) đổ bộ lên đảo Siargao với cường độ bão cấp 5 theo thang bão Saffir-Simpson. Trời mưa dữ dội. Sức gió lên tới 195km/h. Cuồng phong tàn phá mọi thứ.
Escalating construction costs, the rise of solar and wind power, and mounting public opposition have led to a precipitous decrease in massive new hydropower projects. Experts say the world has hit “peak dams,” which conservationists hail as good news for riverine ecosystems.
Numerous recently published reports reflect this planet-altering fact. One study, conducted by scholars at the United Nations University’s Institute for Water, Environment and Health, found that construction of large dams globally fell from a late-1970s peak of about 1,500 a year to around 50 a year in 2020. “There will not be another ‘dam revolution’ to match the scale of the high-intensity dam construction experienced in the early to middle 20th century,” the 2021 study concluded.
Data compiled by the International Renewable Energy Agency (IRENA), an intergovernmental organization that promotes renewable energy, including hydropower, show that in the 21st century, newly installed hydropower capacity peaked in 2013 at 45,000 megawatts a year and then dropped every year but one through 2021, when it reached only 18,900 megawatts. Similarly, investments in new hydropower dropped from a peak of $26 billion in 2017 to an estimated $8 billion in 2022, according to IRENA.
Dam building in China declined sharply around 2015 and has stagnated ever since.