One Year in Gaza: Nowhere Safe | Witness Documentary

Al Jazeera – 5-10-2024

A doctor, first responder, social media content creator and a child share their experiences of the war on Gaza. From October 2023, they survive under Israeli bombardment, revealing moments of strength and vulnerability.

They are all displaced because their homes have been destroyed by Israeli air strikes. As the doctor flees south, contact is lost. For the others, impossible choices must be made under unimaginable circumstances as the months passing turn into a year. As the war intensifies, nowhere is safe.

While sheltering in makeshift tents, schools and refugee compounds, they do not know if they or their loved ones will live to see another day. All of their stories reveal their humanity in times of war.

Thiếu trường công và xã hội hóa giáo dục

Tia sáng – 25/8/2024 – Võ Thị Hải Minh

Câu chuyện thiếu trường công chỉ là hệ lụy dễ thấy của chủ trương xã hội hóa giáo dục mà Việt Nam khởi xướng gần 30 năm trước.

Câu chuyện thiếu trường công chỉ là hệ lụy dễ thấy của chủ trương xã hội hóa giáo dục mà Việt Nam khởi xướng gần 30 năm trước.

Tiếp tục đọc “Thiếu trường công và xã hội hóa giáo dục”

E-waste is overflowing landfills. At one sprawling Vietnam market, workers recycle some of it

Image

A vendor selling used remote controls for various home appliances takes a nap in Nhat Tao market, the largest informal recycling market in Ho Chi Minh City, Vietnam, Sunday, Jan. 28, 2024. (AP Photo/Jae C. Hong)Shoppers and vendors crowd the street in Nhat Tao market, the largest informal recycling market in Ho Chi Minh City, Vietnam, Sunday, Jan. 28, 2024. (AP Photo/Jae C. Hong)

AP – By  ANIRUDDHA GHOSAL and JAE C. HONG

Updated 9:09 AM GMT+7, May 3, 2024

HO CHI MINH CITY, Vietnam (AP) — Dam Chan Nguyen saves dead and dying computers.

When he first started working two decades ago in Nhat Tao market, Ho Chi Minh City’s biggest informal recycling market, he usually salvaged computers with bulky monitors and heavy processors. Now he works mostly with laptops and the occasional MacBook.

But the central tenet of his work hasn’t changed: Nothing goes to waste. What can be fixed is fixed. What can be salvaged gets re-used elsewhere. What’s left is sold as scrap.

“We utilize everything possible,” he said.

Tiếp tục đọc “E-waste is overflowing landfills. At one sprawling Vietnam market, workers recycle some of it”

Đất và người vùng miền núi phía Bắc: Dựng lại trên những gì?

NGUYỄN THU QUỲNH – 01/10/2024 15:54 GMT+7

TTCTSau khi những cơn lũ và sạt lở đất quét qua làng, rồi đây các cộng đồng người dân tộc thiểu số sẽ đứng lên bằng gì?

Xã Hồ Bốn Mù Cang Chải sau trận lũ tháng 8-2023. Ảnh: Nguyễn Việt Cường

Trong căn nhà tuềnh toàng ghép bằng những tấm ván mới xẻ, bào sơ qua, thứ tài sản duy nhất là mấy cái nồi và mấy cái bát, em bé 1 tuổi hai má đỏ au tóc vàng hoe nằm say ngủ. Em bé người Mông say ngủ ở bản tái định cư Hồng Nhì Pá, xã Lao Chải được cha mẹ cõng chạy thoát cơn lũ quét kinh hoàng cuốn qua cả ba xã Lao Chải, Khao Mang, Hồ Bốn của huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) vào ngày 5-8-2023.

Tổng cộng 700 căn nhà bị ảnh hưởng, hỏng 200km đường, ba xã cô lập hoàn toàn – không điện, không nước, không sóng điện thoại. Điều cứu được những bản làng dọc theo bờ suối chạy dọc ba xã hôm ấy chỉ là may mắn: cơn lũ và sạt lở bắt đầu khi trời vừa chập tối, đủ để người dân nhìn thấy dòng nước bùn lũ đen sì đổ về. 

Nhưng cũng trong cơn mưa lũ kinh hoàng, hai em bé ở Khao Mang không có được may mắn ấy, đất đá lở xuống vùi lấp hai em đang ngủ say khi bố mẹ đi nương chưa về.

Đó mới chỉ là một phần nỗi tang thương khủng khiếp do mưa lũ, sạt lở ở các vùng chủ yếu là người dân tộc thiểu số sinh sống ở những dãy núi cao mà năm nào cũng xảy ra, không ở bản làng này thì ở bản làng khác. Và với miền núi phía Bắc, năm ngoái dù sao cũng vẫn còn may mắn hơn năm nay – đến giờ vẫn chưa thể thống kê hết thiệt hại sau cơn bão số 3.

Chú thích: Sạt lở sau bão số 3 ở thôn Tả Suối Câu, xã A Lù, Bát Xát, Lào Cai 19-9-2024 Ảnh: Đỗ Trọng Hiệp

Đã qua những ngày bão táp, câu hỏi lâu dài hơn là sau khi những cơn lũ và sạt lở đất quét qua làng, rồi đây người dân tộc thiểu số sẽ đứng lên bằng gì? Và những đứa trẻ, các em sẽ làm gì đây sau này lớn lên?

Mấy năm nay tôi đi miền núi phía Bắc liên tục, leo lên những bản làng cheo leo, những con đường mòn trên núi cao nhất của Mù Cang Chải – nơi chỉ có những bản làng người Mông cho đến các huyện Sa Pa, Bát Xát (Lào Cai) tới những làng người Dao, người Mông, người Hà Nhì ở hay Bình Liêu, Quảng Ninh có người Dao sinh sống… 

Tôi quan sát miền núi ở nhiều góc độ khác nhau, phỏng vấn nhiều nhân vật khác nhau, từ các cán bộ địa phương (cấp huyện, cấp xã, thôn bản), người dân (ở cả các nhóm nghèo vốn chiếm đa số ở các nhóm dân tộc thiểu số miền núi và một số rất ít các hộ nhạy bén làm kinh tế giỏi), chuyên gia kinh tế và chuyên gia khảo sát các hiện tượng như sạt lở, lũ quét… và đọc hàng chục báo cáo đã được công bố.

Một miền núi lãng mạn và một miền núi bi kịch

Tiếc là, người miền núi sở hữu cảnh quan đẹp hùng vĩ, những ruộng bậc thang tạo tác kiến trúc kỳ vĩ bậc nhất đất nước lại hầu như chưa được hưởng lợi từ những tài sản vô giá mà người dưới xuôi vẫn gọi là “view triệu đô” đó. Tiếc là, đối diện với một miền núi mộng mơ lãng mạn là một miền núi bi kịch với chồng chồng lớp lớp nguy cơ.

Tất cả những miền đất tôi vừa kể trên, bước vào mùa khô, mùa thu hoạch hay mùa hoa đào trước Tết đều đẹp như chốn bồng lai tiên cảnh, nơi những bậc thang lúa, bậc thang mây, núi rừng phủ hoa trải dài ngút mắt. 

Nhưng những cơ hội triệu đô ấy phần lớn mới ở dạng tiềm năng chưa thành tiền tươi thóc thật, mà lũ quét, sạt lở lại là hiện thực thường trực, sẵn sàng ụp xuống vào mùa mưa, chỉ là không biết vào lúc nào.

Bước ra khỏi bản khu tái định cư Hồng Nhì Pá cheo leo trên đỉnh núi, điều thấy ngay chưa phải là những cánh đồng ruộng bậc thang ngút mắt, sóng lúa dập dờn của xã Lao Chải mà là những mảng núi trơ trọi vẫn còn nguyên vết tích lở loét sau lũ quét và sạt lở từng mảng.

Để trả lời được câu hỏi ấy, theo cách kinh điển nhất trong phân tích về phát triển ở các cộng đồng là đánh giá các nguồn lực trong sinh kế, chủ yếu xoay quanh các nguồn lực tự nhiên, vật chất, tài chính, con người và tài sản xã hội (mạng lưới xã hội, khả năng tham gia các tổ chức xã hội khác nhau). 

Phân tích tất cả các nguồn lực sẽ là quá sức trong bài viết này, nhưng hai nguồn vốn chính có thể phân tích sâu là vốn tự nhiên (chủ yếu là rừng – nguồn lực vừa là nguồn vốn tự nhiên, là nguồn lực đảm bảo không gian sống an toàn, vừa là bệ đỡ tinh thần, là cội rễ văn hóa) và vốn con người.

Khi nhìn vào và thảo luận về các nguồn lực phát triển cho vùng dân tộc thiểu số ở miền núi, sau khi lấy cơ hội trừ đi thách thức, lấy điểm mạnh trừ đi điểm yếu, tôi e rằng không thể tránh được rất nhiều nỗi lo lắng về miền núi. Dù gì chúng ta cũng phải phân tích dựa trên bằng chứng.

Chú thích: Sạt lở sau bão số 3 ở thôn Tả Suối Câu, xã A Lù, Bát Xát, Lào Cai 19-9-2024 Ảnh: Đỗ Trọng Hiệp

Đầu tiên là về rừng. Điều chúng ta tự hào là độ che phủ tốt (hơn 42%) không khỏa lấp được con số rừng giàu đóng tán chỉ chiếm 4,6% tổng độ che phủ rừng, theo báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) .

Điều ấy có ảnh hưởng gì trong bối cảnh các thảm họa như lũ quét, sạt lở đất ngày càng tăng? Vai trò của rừng giàu đa dạng sinh học trong giảm lũ lụt, lũ quét đã được phân tích, có thực nghiệm và được công nhận từ hàng nửa thế kỷ nay. Về vai trò của rừng trong phòng chống sạt lở, khoảng chục năm trở lại đây có nhiều báo cáo ghi nhận. 

Tiêu biểu, báo cáo của FAO về vai trò của rừng trong phòng tránh sạt lở đã nhận xét: rừng có đa dạng sinh học, rừng giàu thường liên quan đến tái sinh tự nhiên có thể làm tăng độ ổn định của độ dốc cao hơn rừng với cây độc canh và ở cùng một độ tuổi.

Báo cáo lưu ý rằng không thể nhìn thấy ngay hệ quả của việc suy giảm rừng giàu, rừng tự nhiên lên các thảm họa như lũ quét, sạt lở, có thể nhiều năm sau đó mới thấy hệ quả và rồi hệ quả tiếp tục kéo dài hàng chục năm cho đến khi phục hồi được hệ sinh thái rừng giàu. 

Chẳng hạn, riêng với sạt lở đất, lở đất bắt đầu gia tăng khi rễ cây mục nát vào khoảng ba năm sau khi phá rừng và khả năng bị tổn thương vẫn ở mức cao cho đến khoảng 15 năm khi rễ của rừng tái sinh trưởng thành.

Một mảng sạt lở ở xã Hồ Bốn, Mù Cang Chải – có thể nhìn thấy những mảng sạt lở lớn này bất kỳ đâu ở các xã Lao Chải, Khao Mang, Hồ Bốn, huyện Mù Cang Chải sau cơn lũ tháng 8-2023.

Về xu hướng sẽ còn gia tăng các thảm họa lũ quét sạt lở, chúng ta không có số liệu theo thời gian với khung thời gian dài cho thấy xu hướng ở riêng Việt Nam nhưng có số liệu chung của châu Á. 

Dữ liệu cho thấy tần suất lở đất gây tử vong hoặc ảnh hưởng đến người dân ở châu Á đã tăng hơn 5 lần kể từ những năm 1970 – 2009 (thậm chí số người tử vong do các vụ lở đất do lượng mưa gây ra ước tính cao hơn khoảng 6 lần so với các vụ lở đất do động đất gây ra). Các tính toán này còn chưa tính đến hiện tượng thời tiết cực đoan gần đây, hệ quả của biến đổi khí hậu đang đến ngày càng nhiều.

Trong khi khôi phục hệ sinh thái đòi hỏi quá trình rất dài thì miền núi lại đang đối diện với ngày càng nhiều nguy cơ, chủ yếu từ sạt lở và lũ quét chồng chập và các nguyên nhân rất phức tạp. 

Hiện nay, ngoài bản đồ, chưa có các dữ liệu chung, khảo sát theo khung thời gian dài cho cả bức tranh tổng thể về xu hướng lũ lụt sạt lở cũng như bóc tách mọi nguyên nhân với tất cả các điểm ở miền núi phía Bắc, nhưng tìm các phân tích ở một số điểm giúp chúng ta hình dung được nguy cơ rất lớn và đang ngày càng tăng.

Chẳng hạn, một nghiên cứu, mới xuất bản đầu năm 2024, phân tích 226 điểm dễ xảy ra lũ quét và 452 điểm dữ liệu lịch sử để dự đoán xác suất xảy ra lũ quét và xây dựng bản đồ nguy cơ lũ quét từ 2013-2022 ở huyện Mường La (Sơn La) cho thấy khu vực được phân loại là “có khả năng xảy ra lũ quét cao” và “rất cao” trong giai đoạn 2013-2022 tăng lên 11,7% so với giai đoạn 2001-2010.

Nghiên cứu cũng cho thấy nguyên nhân có thể đến từ việc thay đổi mục đích sử dụng đất, làm giảm độ che phủ đất như nạn phá rừng, đô thị hóa hoặc các hoạt động nông nghiệp làm gia tăng lũ quét… 

Trong khi các thông số về mật độ che phủ thực vật giảm đi, cho thấy thảm thực vật thưa thớt hoặc đất cằn cỗi, làm giảm khả năng hấp thụ nước và tăng nguy cơ xảy ra dòng chảy bề mặt và lũ quét thì ngược lại, các thông số cho thấy diện tích xây dựng tăng, khiến các khu vực này dễ bị lũ quét hơn do dòng chảy tích tụ nhanh chóng khi có mưa lớn.

Nhìn ở khía cạnh khác như giao thông – yếu tố căn bản nhất trong loạt hạ tầng “điện, đường, trường, trạm” với miền núi, có nghiên cứu đánh giá các nguy cơ lũ lụt với giao thông Tây Bắc quốc lộ 6 – trục đường chính đi lên Tây Bắc – cho thấy hiện trạng phức tạp, nguy cơ với trục giao thông huyết mạch của Tây Bắc này rất cao.

Nghiên cứu này thu thập dữ liệu về các vị trí lũ quét và trượt lở đất trong ba năm 2017, 2018, 2019, gồm 88 điểm lũ quét và 235 điểm trượt lở trên trục đường 115km, tập trung vào phạm vi 3km dọc trục đường nghiên cứu. 

Tổng cộng diện tích có “nguy cơ cao và rất cao” là 60,44% (trong đó 44,89% diện tích nằm trong vùng nguy cơ “rất cao”, 15,55% diện tích có nguy cơ “cao”). Trước hàng loạt nguy cơ như vậy, làm sao biết trước để tránh?

Sạt lở ở xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, Yên Bái sau cơn bão số 3. Ảnh: Thu Quỳnh

Trước những nguy cơ còn chưa bộc lộ hết ấy, các địa phương, hầu hết đều là tỉnh nghèo, huyện nghèo, dù dốc hết sức lực, vẫn cần hỗ trợ rất lớn từ ngân sách trung ương để chạy đuổi khắc phục hậu quả của suy giảm hệ sinh thái rừng, của lũ quét và sạt lở ngày càng trầm trọng.

Năm nay chưa có nhiều số liệu và chưa tổng kết được hậu quả của mưa lũ, sạt lở nhưng riêng năm 2023, chỉ với Mù Cang Chải, chỉ một trận lũ 5-8-2023 đã khiến huyện này thiệt hại 100 tỉ (bằng ⅔ con số thu ngân sách năm 2023 của huyện là 150 tỉ đồng). 

Việc khắc phục, cơ bản nhất là tìm nơi ở mới, xây dựng nhà ở cho các hộ đã bị hỏng nhà cửa hoặc có nguy cơ mất an toàn cũng rất khó khăn. Hồng Nhì Pá là một trong hai khu tái định cư tập trung mà huyện Mù Cang Chải thu xếp san ủi được sau trận lũ (mỗi khu chỉ có thể ở tập trung được hơn 10-15 hộ), còn lại phải tìm các điểm tái định cư xen kẹp chứ quỹ đất cũng không có nhiều.

Trong chuyến công tác năm ngoái, tôi trao đổi với GS.TS Đỗ Minh Đức và các chuyên gia Viện địa công nghệ và môi trường, Trường ĐH KHTN, ĐHQG Hà Nội ngay tại Mù Cang Chải khi ông lên đánh giá nguy cơ sạt lở ở đây. Cả giáo sư Đức và các cán bộ địa phương đều đánh giá nếu xu hướng lũ quét, sạt lở gia tăng, việc thu xếp để di dời người dân đến chỗ an toàn sẽ ngày càng khó khăn hơn do quỹ đất eo hẹp, giải phóng quỹ đất rộng cần nguồn ngân sách quá lớn. 

Những đề xuất quy mô lớn “tập trung khối lượng đủ lớn dân cư để đảm bảo an toàn tái định cư cho cả thôn hoặc xã chẳng hạn” sẽ cần tới kinh phí từ trung ương. Riêng việc xử lý được một số khối trượt hiện vẫn đang tồn tại ở ngay tại thị trấn Mù Cang Chải cũng vượt quá khả năng của huyện hoặc của tỉnh. 

Chỉ một huyện đã như vậy, hãy hình dung tái định cư, tái cấu trúc không gian sống của người dân tộc thiểu số ở miền núi ra khỏi các khu vực nguy cơ cần nhiều thời gian và nguồn lực tài chính khổng lồ tới mức nào.

Từ quá khứ đến tương lai

Đi tìm một không gian đủ an toàn, ổn định vẫn còn khó khăn, vậy cơ hội phát triển kinh tế ở những vùng này sẽ như thế nào?

Muốn biết tương lai ra sao, cần nhìn về nguồn lực trong quá khứ. Khi rừng giàu đa dạng sinh học suy giảm, những huyền thoại về miền núi giàu có trù phú tài nguyên giờ đây đã xa xôi. Vào những năm 2010, gần 2/3 dân số các nhóm dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc sống dưới mức nghèo khổ và khoảng 42% sống dưới mức nghèo khổ cùng cực.

Người nghèo ở vùng này cũng nghèo hơn nhiều so với người nghèo dân tộc thiểu số ở các vùng khác. Khoảng cách nghèo đói ở nhóm này gần gấp ba lần người nghèo dân tộc thiểu số khác và gấp khoảng 10 lần người nghèo Kinh/Hoa. Ở thời điểm đó, các nhà nghiên cứu đánh giá người nghèo dân tộc thiểu số ở vùng núi Tây Bắc là người nghèo nhất theo bất kỳ thước đo nào về nghèo đói.

Sau khoảng 10 năm, quả thực cũng có những nhóm khá hơn lên nhưng khi xét đến sự phát triển của một cộng đồng thì đa phần các nhóm dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc không có tài sản gì nhiều, các nhóm dân tộc thiểu số ít người ở vùng sâu vùng xa có tỉ lệ nghèo và cận nghèo lên tới 70%, thậm chí ở một số dân tộc còn là 80% và tỉ lệ nghèo cùng cực vẫn là 45,5% (tụt lại quá xa so với người Kinh/Hoa, có tỉ lệ nghèo cùng cực chỉ là 2,9%).

Sùng Thị Dua trong căn nhà mới được chính quyền trợ cấp, dựng lại ở bản Hồng Nhì Pá, xã Lao Chải, Mù Cang Chải. Nhà cũ bị sạt lở phải di dời khẩn cấp. Chỗ nồi niêu xoong chảo đó là tất cả tài sản Dua mang được từ nhà cũ qua.

Trước tình cảnh khó khăn khi làm nông nghiệp ngày càng không đủ sống, nguồn lợi từ rừng ít ỏi, một chiến lược sinh kế của người dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc những năm gần đây là di cư tìm việc làm ở đô thị mặc dù đây cũng là một con đường chẳng dễ dàng, bởi họ không có trình độ và kỹ năng, thường chỉ làm được các công việc phi chính thức, bấp bênh, đồng lương rẻ mạt. 

Gần đây một số tính toán của các nhà kinh tế cho thấy bằng chứng rõ ràng về quyết định di cư của lao động làm nông nghiệp chịu ảnh hưởng từ sức ép môi trường, cho thấy rõ mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng thời tiết cực đoan bao gồm mưa rất lớn, nóng hoặc lạnh cực đoan với xu hướng di cư.

Một nghiên cứu khác, phân tích dữ liệu từ Điều tra tiếp cận nguồn lực của hộ gia đình trong cả nước, cho thấy trong khoảng 10 năm gần đây, những nơi chịu lũ lụt ngày càng thường xuyên hoặc nghiêm trọng hơn, thì người dân thường di cư nhiều hơn, cứ rủi ro lũ lụt tăng lên thì số người di cư lâu dài sẽ tăng lên. Đặc biệt, “các xã nơi lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn hoặc nghiêm trọng hơn trong thập kỷ qua cũng có lượng di cư nhiều hơn đáng kể”, nghiên cứu kết luận.

Còn nhìn về nguồn lực con người cho tương lai, thật bất định khi học sinh các nhóm dân tộc thiểu số khó khăn nhất ít có khả năng đi học nhất. Đơn cử, trong các dân tộc, dân tộc Mông có tỉ lệ trẻ em ngoài nhà trường (khái niệm trẻ em ngoài nhà trường: đúng ra trẻ phải theo học một cấp học nào đó nhưng không đi học ở cấp học đó) ở cấp THCS cao nhất gấp gần 7 lần mức trung bình của cả nước. Tỉ lệ không chuyển cấp ở dân tộc Mông cũng cao nhất, gần gấp 3 lần so với các dân tộc khác. 

Học vấn thấp sẽ khiến các em sau này càng ít cơ hội vươn lên thoát nghèo. Trong khi bằng chứng nghiên cứu từ nhiều nước đã chứng minh mỗi năm đi học giúp tăng thu nhập thêm 8-10%, ngược lại cứ giảm mỗi 1/3 năm học thì thu nhập trong đời người bị giảm 3%.

Hãy nhìn lại những phát hiện khoa học khác – tạm gọi là về tính di truyền của kiếp nghèo – về khả năng vươn lên thay đổi vận mệnh của con cái phụ thuộc rất nhiều vào trình độ hiểu biết của cha mẹ. 

Trong cùng một điều kiện kinh tế – xã hội thì khả năng vươn lên, chuyển đổi nghề nghiệp của người con trong gia đình có bố là lao động tay chân kém so với người có bố là lao động trí óc tới 17 lần. Đặt trong bối cảnh các cú sốc thiên tai ngày càng nhiều và trình độ học vấn thấp hơn hẳn so với các nhóm khác thì thế hệ sau của người dân tộc thiểu số càng ít có cơ hội thay đổi số phận.

Nơi ta đặt vào một tia hy vọng

Vậy có cách nào phát triển được cộng đồng dân tộc thiểu số ở miền núi? Giả sử vượt qua được những khó khăn ở trên để có môi trường sống an toàn, thì cách thức nào hỗ trợ những người miền núi có trình độ học vấn rất thấp phát triển kinh tế được? Tôi cố gắng nhìn vào những trường hợp “điển hình tiên tiến” từng gặp ở các bản làng miền núi.

Quả thực đã có một số nhóm có chất lượng sống tốt hơn, có những thanh niên thoát nghèo, những anh giám đốc cần mẫn phát triển được doanh nghiệp nhỏ bé từ tri thức bản địa và cảnh quan độc đáo (chủ yếu gồm nông sản, dược liệu, homestay du lịch). Họ vừa có khả năng học tập vừa được sự hướng dẫn chặt chẽ của những nhóm phát triển cộng đồng.

Nhưng những tấm gương ấy vẫn còn quá ít, ở mỗi xã tôi đến chỉ điểm được dăm bảy người như vậy và họ cũng trày vi tróc vảy mới phát triển được. Bởi, dù ngay cả khi có cùng xuất phát điểm, như trình độ học vấn, thì cũng giống như người Kinh ở thành phố hay đồng bằng, các nhóm người dân tộc thiểu số khởi nghiệp sản xuất hay kinh doanh đều mắc vào đủ các vấn đề. 

Từ phân tích SWOT về các nguồn lực sinh kế hộ gia đình (hoặc nhóm hộ, HTX) đang có, phát triển sản phẩm độc đáo, đánh giá thị trường, tìm đầu ra, quảng bá ra thị trường, kết nối nhân lực đến những chiến lược marketing bán hàng rất cụ thể như đánh giá đối thủ, chào hàng ở đâu, làm thế nào nổi bật và khác biệt, hay đơn giản như thiết kế cái vỏ hộp sản phẩm như thế nào cho ấn tượng, nhắm trúng khách hàng mục tiêu… tất thảy đều thách thức với bất kỳ hộ kinh doanh/HTX nào.

Bước vào thị trường, không ai mua bán bằng tình thương, bằng cứu trợ như cách Nhà nước và các tổ chức vẫn cứu trợ miền núi mỗi mùa mưa. Thị trường mua bán nhờ vào sản phẩm chất lượng cao và ổn định, nhờ chiến lược tiếp thị khôn ngoan độc đáo. 

Chứng kiến các nhóm dân tộc thiểu số khởi nghiệp từ vốn gần như 0 đồng tôi mới biết có cả trăm điểm vướng mắc cần đến người hướng dẫn, từ cách thức nghiên cứu sản phẩm tri thức tộc người, chuyển đổi những sản vật, công thức đặc trưng của tộc người thành sản phẩm công nghiệp đạt quy chuẩn vào thị trường đến vay mượn, quản lý dòng tiền… tất thảy đều xa lạ với người miền núi.

Khu tái định cư ở bản Hồng Nhì Pá, xã Lao Chải, huyện Mù Cang Chải, mới được xây dựng sau trận lũ 5-8-2023

Trong điều kiện như thế, nếu chỉ bằng cái nhìn quá giản đơn, cho rằng hỗ trợ một vài chương trình vay vốn, hỗ trợ ở quy mô hộ gia đình trồng cây gì nuôi con gì là xong cả một chuỗi dài thị trường đằng đẵng, ai làm?

Để biến những thế mạnh có sẵn về cảnh quan, sản phẩm độc đáo… thành tiền đòi hỏi phải đầu tư. Người miền núi sẽ đầu tư như thế nào khi kiến thức quản lý bằng không, nguồn lực tài chính rất ít ỏi, rào cản ngôn ngữ quá lớn? Người hướng dẫn nào, doanh nghiệp nào đồng hành với những người mà tiếng Kinh còn chưa thạo như vậy và sẵn sàng bỏ tới 10-20 năm đồng hành?

Một trong những người hướng dẫn hiếm hoi có tiếng là gan lì với miền núi, am hiểu miền núi nhờ xuất thân từ người thiểu số ở miền núi như PGS.TS Trần Văn Ơn (ĐH Dược, sáng lập DK Pharma) mà lặn lội cả cuộc đời cũng chỉ hỗ trợ được cho hơn hai chục nhóm thiểu số để phát triển dược liệu kết hợp du lịch ở miền núi, trong đó cũng chỉ có 1/3 nhóm thành công tốt, 1/3 ở mức trung bình và 1/3 rất chật vật để sống sót. 

Đó là chưa kể cứ “đụng” vào những thứ ông không rành, như thuế má chứng từ, kiến trúc, xây dựng nhà xưởng, ông phải mời ngay nhóm khác có chuyên môn lên hỗ trợ.

Nếu không có ít vốn liếng, kiến thức và khả năng học hỏi hay người hướng dẫn sát sao, đa phần người dân tộc thiểu số chỉ có thể tiếp tục bán sức lao động, dù di cư hay trên quê hương mình, ở những công đoạn đơn giản nhất.

Điều đó đòi hỏi những chương trình phát triển miền núi, vừa quyết tâm lớn đến độ giải quyết được hết những nguy cơ rủi ro cho đến đầu tư dài hơi bền bỉ để phát triển miền núi từ những nhóm thiểu số, bằng cách nâng cao tri thức từ người lớn đến học sinh đang trên ghế nhà trường, bằng cách cầm tay chỉ việc, bằng hàng trăm buổi học, bằng hỗ trợ nghiên cứu phát triển sản phẩm, hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ, cần đến mạng lưới hàng trăm mentor từ nhà lý thuyết khởi nghiệp, lý thuyết quản trị cho đến những chủ doanh nghiệp dày dặn trận mạc, vay vốn và quản trị dòng tiền…

Ai sẽ lặn lội làm điều đó, cho miền núi? 

Ở Việt Nam chúng ta ít thấy các nghiên cứu thực nghiệm, nhưng trên thế giới hiệu quả của rừng trong việc ổn định ở khu vực dốc được chứng minh bằng dữ liệu thực nghiệm về sạt lở sau khi phá rừng đột ngột.

Chẳng hạn, một trong những nghiên cứu đầu tiên đánh giá tác động của việc chặt phá rừng đối với sạt lở đất đã xem xét dữ liệu từ đông nam Alaska. Cả tần suất và diện tích cộng dồn của các trận lở đất đều tăng mạnh sau khi khai thác gỗ (bắt đầu tăng 2-3 năm sau khi khai thác gỗ, trùng với thời điểm rễ cây bị mục nát và rễ không còn cố kết được đất).

Tần suất các trận lở đất và dòng chảy đất đá tăng đáng kể trong 9 năm cho đến khi thảm thực vật rừng được phục hồi. Diện tích chịu tác động của sạt lở đất trong giai đoạn này lớn hơn 5 lần so với diện tích bị lở đất ước tính trong giai đoạn 100 năm trước khi khai thác gỗ.

Rõ ràng, giữ được rừng đa dạng sinh học là điều tối quan trọng với miền núi. Nhìn chung rừng giàu với đa dạng cây và rễ sâu đan bện dày đặc làm giảm được lũ quét sạt lở đất, giúp gia cố đất (dù với các trận sạt lở sâu và rất lớn do mưa quá lớn liên tục hay động đất thì vai trò của rừng cũng bị hạn chế).

Dưới mái trường của đám trẻ di cư

NĐT –   08:20 | Thứ hai, 06/05/2024 0

Trường phổ cập Tam Hà (TP. Thủ Đức) (1) là cơ sở giáo dục ưu tiên tiếp nhận học sinh có hoàn cảnh đặc biệt. Mỗi em có một hoặc hơn một rào cản tiếp cận hệ thống giáo dục công lập lẫn tư thục. Thiếu hồ sơ, giấy tờ theo quy định. Không đủ khả năng chi trả. Bị khiếm thị. Mắc chứng tự kỷ… Những thân phận hẩm hiu được gột rửa, nâng đỡ. Trường giàu tình thương, trò hạnh phúc.

Ba thế hệ ở hẻm rau muống 

“Hẻm rau muống” là cách người địa phương gọi hẻm 252 đường Tam Bình, TP. Thủ Đức.

Tiếp tục đọc “Dưới mái trường của đám trẻ di cư”

China pursues new frontiers as it marks 75 years since founding of PRC

CNA Insider – 26-9-2024

75 years since the founding of the People’s Republic of China, the once impoverished and underdeveloped nation has transformed itself to become the world’s second-largest economy. From revolutionary beginnings to breaking new frontiers, China has charted a path of modernisation as it seeks to create opportunities to build common prosperity. CNA Correspondent looks at how China navigates economic headwinds and a turbulent geopolitical landscape as it pursues high quality development.

0:00 Introduction

0:37 The rise of Changsha in Central China Plan

5:33 EV maker BYD in Changsha

8:12 Shenzhen connectivity key to GBA plan

12:23 China’s manufacturing hub of Dongguan

13:50 Emerging industries in Qianhai

15:48 China driving AI development

18:43 AI race between the US and China

21:07 China produces most entry-level AI talents

Bất ngờ cuộc sống ở “Làng du lịch tốt nhất thế giới” Tân Hóa trong cảnh ngập lụt

NĐT –  15:38 | Thứ sáu, 20/09/2024 0

Thay vì lo âu, sợ hãi chạy lên núi tránh trú khi lũ đến như mọi năm. Bây giờ người dân ở “Làng du lịch tốt nhất thế giới” Tân Hóa (Quảng Bình) vui vẻ, sinh hoạt ăn uống bình thường, ngắm nhìn dòng nước lũ trên nhà phao một cách bình yên.

Làng Tân Hóa bình yên bên dòng lũ.

Tính đến 13 giờ ngày hôm nay (20.9), vùng “rốn lũ” Tân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình – nơi trở nên nổi tiếng bởi được công nhận là một trong những “Làng du lịch tốt nhất thế giới” năm 2023 – có gần 430 ngôi nhà bị ngập sâu từ 0,5-2m.

Tiếp tục đọc “Bất ngờ cuộc sống ở “Làng du lịch tốt nhất thế giới” Tân Hóa trong cảnh ngập lụt”

Xóa nạn ‘thân hữu’ giữa quan chức và doanh nghiệp – 4 bài

Xóa nạn ‘thân hữu’ giữa quan chức và doanh nghiệp 

  • Bài 1: Những quan hệ… triệu đô
  • Bài 2: Vỏ bọc của những khoản tiền bất chính
  • Bài 3: ‘Bài toán’ cơ chế và phẩm chất
  • Bài 4: Giám sát chặt, xử lý nghiêm

***

Xóa nạn ‘thân hữu’ giữa quan chức và doanh nghiệp – Bài 1: Những quan hệ… triệu đô

PLO – Ngày đăng: 26/09/2024 – 08:07

Các đại án tham nhũng thời gian qua khiến dư luận bàng hoàng, phẫn nộ lẫn đau đớn.

LTS: Đầu tháng 9-2024, tại phiên họp toàn thể lần thứ 14 của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, khi nhận xét báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2024, các đại biểu cho rằng công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua tiếp tục được đẩy mạnh, có bước tiến mới, quyết liệt và hiệu quả hơn…

Tuy nhiên, tình trạng tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh vực đến nay vẫn còn nghiêm trọng, diễn biến phức tạp, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, đặc biệt là có sự câu kết giữa những cán bộ thoái hóa, biến chất với doanh nghiệp, tổ chức để trục lợi.

Loạt bài“Xóa nạn ‘thân hữu’ giữa quan chức và doanh nghiệp” sẽ phân tích bản chất, tác động của các mối quan hệ giữa một bộ phận đảng viên, công chức thoái hóa, biến chất với các doanh nghiệp, trong đó có những cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý trong hơn 10 năm qua; đánh giá, nhận diện tình trạng “thân hữu”, từ đó kiến nghị các giải pháp để khắc phục tình trạng trên.

Kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong nhiều vụ án tham nhũng nhấn đi nhấn lại cụm từ “vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức Đảng…”. Gần đây là các vụ kit test Việt Á, chuyến bay giải cứu, Hậu “pháo”, Vạn Thịnh Phát, Công ty Xuyên Việt Oil… Một trong những điểm đáng chú ý là sự bất thường, nạn “thân hữu”, “sân sau” trong mối quan hệ giữa quan chức với doanh nghiệp (DN).

Tiếp tục đọc “Xóa nạn ‘thân hữu’ giữa quan chức và doanh nghiệp – 4 bài”

Cuộc chiến Trung Đông: Những cân nhắc từ hai phía

SÁNG ÁNH 28/09/2024 10:03 GMT+7

TTCTVòng xoáy bạo lực mới ở Trung Đông đang tạo ra gánh nặng khủng khiếp cho cả hai xã hội Lebanon và Israel.

Ảnh: Newsweek

Ngày 17-9, trong hơn 1 tiếng và từ 15g30 trở đi, trên 3.000 máy nhắn tin ở Lebanon đồng loạt phát nổ. Ngày hôm sau, thêm khoảng 300 bộ đàm cầm tay cũng phát nổ cùng một số bình điện xe con và tấm pin mặt trời. Số tử thương trong hai ngày lên đến 37 và số bị thương nặng nhẹ lên đến gần 3.000.

Tiếp tục đọc “Cuộc chiến Trung Đông: Những cân nhắc từ hai phía”

Tư nhân xây trường học, bệnh viện không dễ

TIẾN LONG – MỸ DUNG25/09/2024 05:02 GMT+7

TTCT Các địa phương đang đẩy mạnh xã hội hóa y tế, giáo dục để giảm tải cho hệ thống công lập nhưng có rất nhiều rào cản để tư nhân tham gia xây dựng bệnh viện, trường học.

Giáo viên chăm sóc bữa trưa cho học sinh tại một trường tư thục ở TP Thủ Đức (TP.HCM). Ảnh: NHƯ HÙNG

Từ năm 2008, Chính phủ đã có những chính sách khuyến khích xã hội hóa lĩnh vực y tế, giáo dục như ưu tiên cho thuê tài sản công, miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, ưu đãi các loại thuế, phí… Nhưng các doanh nghiệp tham gia trong lĩnh vực này chia sẻ: thủ tục đầu tư xây dựng trường học, bệnh viện chưa bao giờ dễ dàng.

Tiếp tục đọc “Tư nhân xây trường học, bệnh viện không dễ”

Mỹ và kế hoạch rút quân khỏi Iraq

ANTG – Thứ Tư, 11/09/2024, 07:04

Các nhà đàm phán đã nhất trí một kế hoạch rút quân đội Mỹ khỏi Iraq sau khi quân đội Mỹ liên tục bị các lực lượng ủy nhiệm của Iran tấn công. Tuy nhiên, thỏa thuận này vẫn cần “sự chấp thuận cuối cùng” từ các nhà lãnh đạo ở Baghdad và Washington dù rằng thỏa thuận được xem như đã xong, như một quan chức Mỹ đã nói “bây giờ chỉ còn là vấn đề thời điểm công bố”.

Thỏa thuận này sẽ chứng kiến nhiều binh lính Mỹ rút khỏi Iraq vào tháng 9/2025 và những binh lính cuối cùng sẽ rời đi vào cuối năm 2026.

Những người chỉ trích “cuộc chiến tranh trường kỳ” của Mỹ có thể sẽ hoan nghênh thỏa thuận này, nhưng nó có thể gây ra mối lo ngại trong số các nhà hoạch định chính sách và đồng minh của Mỹ trong khu vực đang tập trung vào ảnh hưởng của Iran. Các cuộc đàm phán chính thức về tình trạng của khoảng 2.500 binh lính Mỹ tại Iraq đã bắt đầu vào tháng 1/2024 nhưng đã bị trì hoãn trong bối cảnh căng thẳng về cuộc chiến của Israel ở Gaza.

Thủ tướng Iraq Mohammed Shia al-Sudani tại phòng làm việc của ông ở Baghdad, tháng 3/2024.  Ảnh: Associated Press.
Tiếp tục đọc “Mỹ và kế hoạch rút quân khỏi Iraq”

Tiếng Việt từ TK 17: các thanh hỏi ngã trong chữ quốc ngữ và giọng Sài Gòn (phần 47A)

Nguyễn Cung Thông

Bài này (phần 47A) bàn về giọng Sài Gòn và những đặc tính của giọng này cũng như các nguyên nhân có thể dẫn đến 5 thanh điệu (vì không phân biệt rõ thanh hỏi và thanh ngã) như trong tiếng Việt hiện đại. Nội dung tóm tắt các trao đổi trên diễn đàn du học sinh Colombo Plan ở Úc về cùng chủ đề vào tháng 8 và tháng 9 năm 2024. Nếu cách phát âm của từng chữ là yếu tố quan trọng để phát hiện phương ngữ của tiếng Anh, Pháp thì thanh điệu lại là một tiêu chuẩn ban đầu cho ta phân biệt phương ngữ tiếng Việt một cách đơn giản. Bài này chú trọng vào khuynh hướng thay đổi thanh hỏi và ngã của giọng Bắc so sánh với giọng Nam Bộ (Sài Gòn) hiện nay, đặc biệt qua sự ghi nhận bằng chữ quốc ngữ. Tiếp tục đọc “Tiếng Việt từ TK 17: các thanh hỏi ngã trong chữ quốc ngữ và giọng Sài Gòn (phần 47A)”

What’s the point of international law?

Al Jazeera – 17-9-2024

From the Gaza war to Ukraine – the role of international law has been under intense scrutiny recently. What exactly is international law? How does it work? And what’s the point of it, if so often it doesn’t seem to lead to the accountability and justice that many people want? Sandra Gathmann takes #AJStartHere to The Hague – the home of the International Court of Justice (ICJ) and International Criminal Court (ICC) – to explain.

Tiếp tục đọc “What’s the point of international law?”

Từ tâm chấn động đất – 3 kỳ

  • Từ tâm chấn động đất – kỳ 1: Những đêm không ngủ
  • Từ tâm chấn động đất – Kỳ 2: Những ngôi nhà treo vách núi
  • Từ tâm chấn động đất – Kỳ cuối: Mù mờ ‘thủ phạm’
Nhà chị Y Dô bị nghiêng hẳn sang một bên sau những trận động đất.

***

Từ tâm chấn động đất – kỳ 1: Những đêm không ngủ

TPO – 22/08/2024 | 06:44

Những trận động đất vẫn diễn ra bất thình lình, không kể ngày đêm uy hiếp tinh thần, tính mạng của người dân huyện Kon Plông (Kon Tum) nói riêng các tỉnh lân cận nói chung. Sự hoang mang, lo lắng của người dân ngày một dày thêm khi chưa có một lời giải thích thỏa đáng về nguyên nhân gây ra động đất.

Khi đi vào vùng được xác định là tâm chấn động đất, ám ảnh nhất với chúng tôi là những đôi mắt thâm quầng trên gương mặt của người dân sau nhiều đêm mất ngủ. Cuộc sống khó khăn, lại thêm những cơn địa chấn bất thình lình luôn rình rập khiến nơi đây càng thêm bức bí.

Tiếp tục đọc “Từ tâm chấn động đất – 3 kỳ”

Is China silencing artists in Australia? – 2 parts

Is China silencing artists in Australia? | 101 East Documentary

Al Jazeera – 26-8-2024

In the past two decades, Chinese contemporary art has taken the world by storm. But under Xi Jinping, many claim it has become a weapon for propaganda and that those who push political boundaries, face intimidation and censorship – even far away in Australia. Now artists are calling out China’s influence in the arts. In the first of a two-part investigation, 101 East asks: Is China silencing artists in Australia? Tiếp tục đọc “Is China silencing artists in Australia? – 2 parts”