Negotiations and Vietnam: A Case Study of the 1954 Geneva Conference

Descriptive Note: Memorandum Corporate Author: RAND CORP SANTA MONICA CA Personal Author(s): Gurtov, Melvin Report Date: 1968-07-01 Abstract: An analysis is made of 1 U.S. policy and diplomacy during the 1954 Geneva Conference on Indochina, 2 the objectives of the participants in the conference, 3 the tactics used during the negotiations, and 4 the implications of those tactics for the present conflict. Although Vietnamese unity was not a priority objective of China or the Soviet Union, neither power may have expected a South Vietnamese regime to survive until the national elections. The U.S. goal, among others, was to maximize the Saigon governments chances of posing an authentic challenge in the elections of 1956. In terms of the present conflict, additional Communist participation might complicate rather than strengthen Hanois position by increasing the opportunity for division on issues of troop withdrawal and political settlement. Saigons influence could be reduced if the United States were to limit South Vietnams role to talks with the Viet Cong. In the realm of tactics, Geneva indicates, first, that an ambiguous commitment on the part of the United States to a negotiated settlement can have far greater value than an obvious disposition to accept terms second, that the threat of a use of force hitherto restrained can be more valuable to the U.S. bargaining position than force already applied. Full report https://www.rand.org/content/dam/rand/pubs/research_memoranda/2005/RM5617.pdf

Đồng hành phát triển: Bài học từ hành trình hơn một thập kỷ làm viẹc cùng các cộng đồng dân tộc thiểu số tại Việt Nam

Xem báo cáo tại đây

Hơn 10 năm làm chương trình Dân tộc thiểu số của viện iSEE là 10 năm của học hỏi và bồi đắp thêm tri thức về phát triển. Những lý thuyết, những phương pháp tiếp cận chúng tôi viết trong tài liệu này là những kết quả của quá trình phản tư và học liên tục để lựa chọn chứ không phải là thứ được chọn ngay tại thời điểm khai sinh của chương trình năm 2008. Trong cả tiến trình ấy, điểm neo chúng tôi lại để chất vấn, phản tư, và học hỏi là những giá trị của iSEE – Tự do, Bình đẳng, Khoan dung – và tầm nhìn về vấn đề mà iSEE muốn thay đổi, là vẻ đẹp trong cách nghĩ, cách sống của các thành viên nhóm Tiên phong và cộng đồng của các anh chị tại địa phương.

Trên chặng đường hoạt động và xây dựng chương trình Dân tộc thiểu số, chúng tôi đi lên từ những nghiên cứu
dưới góc tiếp cận nhân học, lấy trải nghiệm và hoạt động của cộng đồng các tộc người thiểu số làm trung tâm.
Trong quá trình này, chúng tôi đã nhìn thấy chính mình trong những phê phán về tư duy phát triển của số đông.
Chúng tôi dần tích lũy tri thức và thấu hiểu hơn những trở ngại mang tính hệ thống đối với các nhóm dân tộc
thiểu số. Một trong những trở ngại lớn nhất là sự chấp nhận một cách thiếu phê phán trên diện rộng đối với tư
duy tiến hoá luận, lối suy nghĩ cho rằng họ luôn mặc nhiên ở nấc thang phát triển thấp hơn so với người Kinh. Với
niềm tin mạnh mẽ vào tính chủ thể và năng lực văn hoá của cộng đồng, và nhất là những thay đổi do chính cộng
đồng tạo ra, trong hơn một thập kỷ qua, chúng tôi đã có cơ hội đồng hành và trải nghiệm hành trình Tự hào – Tự
tin- Tự chủ với cộng đồng các dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam. Mục tiêu của chúng tôi là cùng với họ bồi
đắp khát vọng tạo dựng một tương lai chung, nơi câu chuyện của cộng đồng các dân tộc thiểu số được chia sẻ,
lắng nghe, thấu hiểu, và trở thành một nguồn cảm hứng cho suy tư về bình đẳng và phát triển. Hành trình này
của chúng tôi đi qua rất nhiều thách thức, với nhiều hoài nghi từ bên ngoài cũng như sự phản tư từ chính những
người xây dựng và tham gia. Đó cũng là tiến trình tất yếu để thử thách và củng cố niềm tin vào sức mạnh của cộng
đồng, cũng chính là triết lý phát triển mà chúng tôi đã và đang theo đuổi.


Tài liệu này là một phần trong nỗ lực tái hiện và chia sẻ rộng rãi triết lý phát triển ấy. Với cấu trúc
4 phần có liên hệ chặt chẽ và phản ánh lẫn nhau, chúng tôi bắt đầu với phần Đặt vấn đề lý giải những băn khoăn
và lựa chọn vào thời điểm bắt đầu, tiếp đến giới thiệu các Lý thuyết nền tảng mà chúng tôi đã may mắn được
tiếp cận và học hỏi. Phần 3 minh họa các Chiến lược và hành động mà Viện iSEE đã vận dụng các lý thuyết trong
triển khai thực tế cùng với cộng đồng. Cuối cùng, phần 4 tổng kết những Bài học kinh nghiệm chúng tôi tự đúc
kết sau chặng đường hơn một thập kỷ.


Chúng tôi vô cùng biết ơn các nhà nghiên cứu TS. Phạm Quỳnh Phương, TS. Hoàng Cầm, TS. Nguyễn Thu Giang
đã truyền cảm hứng và giúp chúng tôi tiếp cận với các lý thuyết từ những ngày đầu tiên. Chúng tôi trân trọng
sự ủng hộ và hợp tác của các tổ chức đối tác như Đại sứ quán Ireland, Đại sứ quán Canada, Đại sứ quán Hà Lan,
Ủy ban Dân tộc, Tổ chức CCFD Terre-Solidaire, Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam, Tổ chức Oxfam tại Việt Nam,
Tổ chức Plan International Việt Nam, Trung tâm xây dựng năng lực cộng đồng CECEM v.v. Chúng tôi chân thành
cảm ơn các đồng nghiệp và các tư vấn đã đặt nền móng, cùng xây dựng và chia sẻ trong suốt những năm qua.
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đặc biệt nhất tới các thành viên Mạng lưới Tiên Phong vì tiếng nói của người dân
tộc thiểu số đã tin tưởng và đồng hành với chúng tôi trên hành trình học hỏi và hiện thực hóa niềm tin của mình.
Trong quá trình hoàn thành tài liệu này, chúng tôi được tham vấn và hỗ trợ rất nhiều từ các chuyên gia và các
thế hệ lãnh đạo iSEE – ThS. Lê Quang Bình, Th.S Lương Minh Ngọc và Th.S Lương Thế Huy. Chúng tôi cũng nhận
được sự hỗ trợ nhiệt tình của TS. Nguyễn Thu Giang trong vai trò hiệu đính.


Chúng tôi hy vọng độc giả sẽ tìm được những kiến thức và kinh nghiệm bổ ích qua những chia sẻ của mình,
và hơn thế nữa, có thêm động lực để tiếp tục tìm tòi và khám phá những cách làm mới để tạo ra sự phát triển
có ý nghĩa.

Thanh thiếu niên dân tộc thiểu số và những rủi ro liênquan đến mua bán người trên mạng xã hội

Nghiên cứu tại Hà Giang, Điện Biên và Lào Cai

Nghiên cứu “Thanh thiếu niên dân tộc thiểu số và những rủi ro liên quan đến mua
bán người trên mạng xã hội” được thực hiện bởi Viện iSEE, Blue Dragon với sự hỗ
trợ tài chính và kỹ thuật của SecDev vào đầu năm 2021 tại Điện Biên, Hà Giang
(hiện là địa bàn hoạt động của Blue Dragon) và Lào Cai (chưa có hoạt động của
Blue Dragon), với mục tiêu tìm hiểu về thực trạng sử dụng Mạng Xã Hội và các
dịch vụ Internet của thanh thiếu niên Dân tộc Thiểu số cũng như những rủi ro
họ gặp phải liên quan đến nạn mua bán người hiện nay, từ đó đưa ra khuyến nghị
thiết thực cho các thông điệp và can thiệp truyền thông.
Nghiên cứu này được thiết kế kết hợp giữa một điều tra định lượng với 624 học
sinh và thanh thiểu niên DTTS tại Hà Giang và Điện Biên (bao gồm 40.9% dân
tộc Mông, 39.6% dân tộc Thái, còn lại gồm các dân tộc Khơ Mú, Dao, Tày, Giáy,
vv..), và một nghiên cứu định tính dựa trên 14 TLN và 34 PVS trực tiếp với thanh
thiếu niên, học sinh, giáo viên tại ba địa bàn nghiên cứu và cán bộ chương trình
của Blue Dragon.

Tải báo cáo tại đây https://www.isee.org.vn/thu-vien/nghien-cuu-thanh-thieu-nien-dan-toc-thieu-so

Một số nội dung và giá trị cơ bản về quyền con người trong “Quốc Triều Hình Luật” – Luật Hồng Đức

phapluatdansu.edu.vn Tạp chí Triết học số 7 (194) năm 2007

NGUYỄN THANH BÌNH – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Quốc triều hình luật (hay còn gọi là Lê triều hình luật) được xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh trong các triều đại phong kiến Việt Nam thời Lê sơ. Bộ luật này được vua Lê Thánh Tông ban hành vào năm 1483  trong thời gian ông lấy niên hiệu là Hồng Đức (1470-1497), nên trong dân gian và trong sử sách vẫn thường gọi bộ luật này là Luật Hồng Đức(1).

Tất nhiên, cho đến nay, vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau về thời điểm khởi thảo và thời điểm hoàn chỉnh bộ luật này. Trong thiên Hình luật chí (sách Lịch triều hiến chương loại chí), Phan Huy Chú cũng như dựa trên nhiều nguồn tư liệu khác và theo quan điểm chung của nhiều nhà nghiên cứu thì bộ luật này được xây dựng trên cơ sở sưu tập tất cả các điều luật, các văn bản pháp luật đã ban bố và thi hành trong các đời vua trước đây, được sửa chữa, bổ sung và san định lại cho hoàn chỉnh(2). Song, trong Lời nói đầu của cuốn Quốc triều hình luật do Viện Sử học Việt Nam dịch và giới thiệu thì bộ luật trên có thể được soạn thảo ngay năm đầu của triều Lê sơ (Lê Thái Tổ) và “không ngừng được các triều vua kế tiếp bổ sung, hoàn chỉnh dần, trong đó chắc chắn là có những đóng góp to lớn của ông vua nổi tiếng văn hiến Lê Thánh Tông”(3). Có thể khẳng định rằng, Luật Hồng Đức là bộ luật tiến bộ nhất, hoàn chỉnh nhất trong các bộ luật ở Việt Nam thời phong kiến; là thành tựu có giá trị đặc biệt trong lịch sử pháp luật Việt Nam; là một trong những thành tựu tiêu biểu của nền văn hiến nước ta. Bộ luật ấy chứa đựng nhiều giá trị nhân văn sâu sắc và nội dung tư tưởng rộng lớn, là cơ sở nền tảng trong việc xây dựng nhà nước phong kiến thịnh trị thời Lê sơ.

Tiếp tục đọc “Một số nội dung và giá trị cơ bản về quyền con người trong “Quốc Triều Hình Luật” – Luật Hồng Đức”

Thân phận người phụ nữ trong bộ luật Hồng Đức thời hậu Lê

 danviet.vn Thứ ba, ngày 15/06/2021 22:56 PM (GMT+7)

Với Bộ luật Hồng Đức, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, người phụ nữ được pháp luật quy định một loại quyền đặc biệt…

Bộ luật Hồng Đức là 1 trong 4 bộ tổng luật thành văn trong lịch sử lập pháp Việt Nam (cùng với bộ Hình thư thời Lý, bộ Quốc triều thông chế thời Trần và bộ Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn). Bộ luật Hồng Đức là sản phẩm của việc pháp điển hóa pháp luật thời Lê sơ, hiệu lực của nó không chỉ duy trì trong hơn 300 năm thời Hậu Lê; mà kể cả thời Nguyễn sau này hay hệ thống pháp luật Việt Nam hiện đại cũng đã kế thừa nhiều thành tựu lập pháp trong bộ luật Hồng Đức.

Thân phận người phụ nữ trong bộ luật Hồng Đức thời hậu Lê - Ảnh 1.
Hai người phụ nữ thời Lê trong Hoàng Thanh chức cống đồ.

Bộ luật Hồng Đức bao gồm 722 điều, chia thành 13 chương; nhưng không phải tất cả các điều luật này đều được ban hành trong thời kì Hồng Đức (1470-1497). Ví dụ, điều 388 bộ luật Hồng Đức được ban hành vào năm Quang Thuận thứ 2 (1461); điều 389 bộ luật Hồng Đức được ban hành vào năm Hồng Thuận thứ 3 (1511), điều 391 bộ luật Hồng Đức được ban hành vào năm Quang Thiệu thứ 2 (1517)…

Tiếp tục đọc “Thân phận người phụ nữ trong bộ luật Hồng Đức thời hậu Lê”

Ấn tượng nhân văn từ “Lá đơn thứ 72”

sggp.org 9/05/2022 08:00 (GMT+7)

(ĐTTCO) – Hướng đến kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ, Sân khấu tư nhân Lệ Ngọc công diễn vở kịch “Lá đơn thứ 72” nói về câu chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo xử lý thư kêu cứu của người dân bị án oan. NSND Lê Tiến Thọ ở tuổi 71 được mời làm đạo diễn, còn NSND Vương Duy Biên ở tuổi 64 đảm nhận vai trò thiết kế mỹ thuật. 

Một cảnh trong vở kịch “Lá đơn thứ 72”.
Một cảnh trong vở kịch “Lá đơn thứ 72”.

NSND Lê Tiến Thọ là một nhân vật nổi tiếng bậc nhất trong nghệ thuật tuồng Việt Nam, với các vai diễn trong “Suối đất hoa”, “Hoàng hôn đen”, “Lý Phụng Đình”… và còn thể hiện năng lực trong vai trò đạo diễn các vở tuồng “Thiếu phụ Nam Xương”, “Lý Chiêu Hoàng”, “Dũng khí Đặng Đại Độ”…

Ông cũng là tác giả của nhiều kịch bản tuồng như “Chuyện tình ông vua”, “Hoàng thúc Lý Long Tường”, “Vụ án Lệ Chi Viên”… NSND Lê Tiến Thọ được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2012. Sau nhiều năm làm Giám đốc Nhà hát tuồng Việt Nam, ông tiếp tục đảm nhận những vị trí Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn, Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao – Du lịch, Chủ tịch Hội Sân khấu Việt Nam… 

Tiếp tục đọc “Ấn tượng nhân văn từ “Lá đơn thứ 72””

Two Koreas, Two Development Policies

cfr.org

How did two countries with the same language, culture, and history turn out so differently?

Last Updated April 28, 2023

North Korean and South Korean leaders walking towards each other with arms extended for a handshake.

South Korean President Moon Jae-in and North Korean leader Kim Jong Un shake hands at the truce village of Panmunjom inside the demilitarized zone separating the two Koreas, South Korea, April 27, 2018.

Source: Korea Summit Press Pool via Reuters.SHARE

South Korea is one of the world’s most successful economies. It’s home to billion-dollar corporations like Samsung and produces some of the best high-tech electronics. But just across the border, North Korea is one of the most impoverished countries in the world. How can two countries with the same language, culture, and history—that were, not long ago, one united country—turn out so differently?

North and South Korea had been one nation for over a thousand years. Theoretically, they could have developed similarly after splitting in 1945, at the end of World War II. In fact, North Korea possessed the resources to outpace the south in development. But the political and economic decisions their leaders made destined the countries for completely different futures.

https://datawrapper.dwcdn.net/gOOgt/1/

The Division of the Koreas

Tiếp tục đọc “Two Koreas, Two Development Policies”

A controversial article praises colonialism. But colonialism’s real legacy was ugly.

washingtonpost.com September 19, 2017 at 6:00 a.m. EDT

Women and children prepare to flee with their belongings near the Central African Republic town of Grimari on May 7, 2014. (Siegfried Modola/Reuters)

How many of today’s problems in the Global South are a direct legacy of colonialism? A recent journal article by Bruce Gilley,  “The Case for Colonialism,” kicked up great controversy by arguing that the “orthodoxy” that Western colonialism was universally harmful to colonized peoples and countries is overstated. Colonialism, Gilley writes, was “both objectively beneficial and subjectively legitimate” in many places.

Gilley, a political scientist at Portland State University, studies Chinese politics and recently made waves for resigning his membership in the American Political Science Association over its alleged lack of political diversity. His article in Third World Quarterlyhowever, ignores many existing studies that answer these questions with better data and more rigorous analysis, and which come to a resounding conclusion of “no.”

Tiếp tục đọc “A controversial article praises colonialism. But colonialism’s real legacy was ugly.”

What Is Colonialism and How Did It Arise?

CFR.org Last Updated February 14, 2023

Explore how colonialism enriched empires and fundamentally reshaped countries such as India.

A Hindu servant serves tea to a European colonial woman in this undated photograph.

A Hindu servant serves tea to a European colonial woman in this undated photograph. Source: George Rinhart/Corbis via Getty ImagesSHARE

In the late seventeenth century, the Mughal Empire controlled almost all of the Indian subcontinent.

European visitors marveled at the empire’s wealth and grandeur. Antonio Monserrate, a Portuguese Jesuit missionary, called its cities “second to none either in Asia or in Europe with regards either to size, population, or wealth.”

For centuries, merchants around the world had traveled to India, eager to trade for coveted silk, spices, and textiles. And in 1700, India’s economy was larger than all of Western Europe’s put together, making up nearly 25 percent of the global economy. By 1973, however, that number had dropped to just 3 percent. 

How did this happen?

The full story is long, winding, complex, and contentious. It involves centuries of war, technological innovation, and global trade that sent some economies soaring and brought others crashing down. But central to this story for India—and for so many countries around the world—is the history of colonialism, the practice of controlling another country or area and exploiting its people and resources.

Tiếp tục đọc “What Is Colonialism and How Did It Arise?”

1,000 years of history sandwiched between Red River and Mekong delta on the Reunification Express through Vietnam

scmp.com Published: 1:15pm, 3 Sep, 2023

A journey from Hanoi, the Vietnamese capital, via former capitals Ninh Binh and Hue, to Ho Chi Minh City, its investment capital, reveals much about the country

It’s difficult not to think about trains while in downtown Hanoi, especially at mealtimes.

Long metal caravans shunting through town in plain view of the near-ubiquitous streetside eateries contribute a periodic clappity-clap rhythm to the city’s clamorous soundtrack.

Tracks girdle the historical heart of the Vietnamese capital like the head of a question mark and in doing so, connect two of Hanoi’s most popular sites: the Long Bien Bridge, a colonial structure spanning the Red River that was bombed so many times during the Vietnam war it became a symbol of national resistance, and Ngo 224 Le Duan (better known as Train Street), an alleyway along which trains pass perilously close to houses and makeshift cafes.

However, my travel inspiration comes not from the recurrent glimpses of locomotives, but from an old propaganda poster hanging in a tourist shop opposite the Cathedrale Saint-Joseph de Hanoi.

A train nuzzles its way down “Train Street”, a modern-day tourist attraction in Hanoi, Vietnam. Photo: Thomas Bird
Tiếp tục đọc “1,000 years of history sandwiched between Red River and Mekong delta on the Reunification Express through Vietnam”

Theravada Buddhism intheSpiritual Life ofKhmer People intheSouthern of Vietnam: Position, Role and Values

psychologyandeducation.net

Nguyen Huu Tho, Kien Giang University

Buddhist philosophy has long permeated the Khmer ethnic community. In this community, the relationship between ethnicity (Khmer people) and religion (Theravada Buddhism) is closely linked together. The Southern Khmer temple is a cultural center of this ethnic group. This place is associated with cultural activities and folk rituals, and at the same time is a traditional school that teaches the knowledge, human ethics, and handicraft. The pagoda is like a museum about Buddhism and the art of “Phum” and “Soc”, a place for Khmer people to rely on their souls when they live and send their ashes when they die. This study refers to the position and role of Theravada Buddhism for Khmer people. From there, state the current situation and make recommendations to the Vietnam Buddhist Sangha and state management agencies, in order to contribute to preserving and promoting the values ​​of Khmer Theravada Buddhism and strengthening the great national unity bloc.

Article Details Vol. 58 No. 5 (2021): Vol. 58 No. 5 (2021)

Phương pháp giải quyết vấn đề và Tứ Diệu Đế (phần 2)


Nguyễn Cung Thông

Phần này bổ túc cho bài Phương pháp giải quyết vấn đề và Tứ Diệu Đế (phần 1). Phần 2 đề nghị một cách tiếp cận mới dựa vào ngôn ngữ so sánh: nhất là khi tiếng Việt và Hán Việt (môi trường dịch kinh Phật Giáo truyền thống ở VN) đã có một quá trình giao lưu rất lâu đời.

Các chữ viết tắt là ppgq (phương pháp giải quyết vấn đề), tdđ (Tứ Diệu Đế), NCT (Nguyễn Cung Thông), PG (Phật Giáo), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên m Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716). Lý và kỳ có thể viết là lí và kì trong loạt bài này.

Phần 1 đã cho thấy tdđ là một phương pháp giải quyết vấn đề qua bốn giai đoạn dễ nhớ và đơn giản: mức độ đơn giản càng cao thì mức độ ứng dụng phổ quát (universality) càng cao. Ai cũng có thể áp dụng tdđ mà không cần phải học chuyên môn về ngành nào cả. Như đã bàn trong phần 1, tdđ còn tương ứng mật thiết với quá trình chữa bệnh trong y khoa: Khổ đế liệt kê hiện trạng bệnh tình (bệnh lý), Tập đế đi vào các nguyên nhân cốt lõi, Diệt đế cho phương án hay uống thuốc dứt bệnh và Đạo đế cho ta những hoạt động và kỹ thuật để không còn bệnh nữa (ngừa bệnh so với chữa bệnh). Tdđ là một thành phần cốt lõi của PG, một ppgq tổng quát. Những ai không là phật tử cũng có thể dùng ppgq này, và cũng có khi chính mình đã từng sử dụng nhưng không ý thức được.

 

Phương pháp giải quyết vấn đề và Tứ Diệu Đế (phần 2)

Hòn trống mái ở vịnh Hạ Long có nguy cơ bị gãy, đổ: Cần ngay giải pháp bảo tồn cấp thiết

baovanhoa.vn Thứ Hai 14/08/2023 | 08:01 GMT+7

VHO-  Có thể nói, hòn Trống Mái nằm ngay ở ví trí trung tâm của di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, là biểu tưởng du lịch nổi tiếng trong nước và quốc tế của vùng đất này, nhưng lại đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ đổ, trượt nếu chính quyền, cơ quan chức năng sở tại không có ngay giải pháp bảo tồn cấp thiết.

Hòn Trống Mái được giới chuyên gia cảnh báo có nguy cơ cao bị gãy, trượt

Cuộc hội thảo góp ý cho Báo cáo tổng kết và các sản phẩm chính của nhiệm vụ khoa học công nghệ “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và các yếu tố ảnh hưởng làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn hòn Trống Mái, vịnh Hạ Long” diễn ra từ hồi cuối tháng 7 vừa qua, tuy nhiên cho đến nay theo tìm hiểu của chúng tôi, các bên liên quan vẫn chưa có những động thái mạnh mẽ cho vấn đề “cấp cứu” biểu tượng có một không hai của di sản vịnh Hạ Long.

Còn nhớ vào cuối năm ngoái, chúng tôi cùng đoàn chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau có chuyến tham quan vịnh Hạ Long, và một trong những điểm đến là hòn Trống Mái. Cơ duyên đưa đến địa điểm này không hề xuất phát từ sự tò mò hay chụp ảnh lưu niệm vì biểu tượng này đã nằm lòng trong sự yêu thích của biết bao du khách, mà trong đoàn có một chuyên gia về địa chất mong muốn mọi người có cái nhìn thực địa ở khoảng cách gần nhất có thể để nhận diện rõ hơn về sự ăn mòn đáng sợ đối với “hai chân” của hòn Trống Mái. Bằng con mắt chuyên môn, vị chuyên gia về địa chất đã cảnh báo rằng, với tốc độ xâm thực và bào mòn của sóng, gió và tác động của con người như hiện nay, chẳng bao lâu nữa độ kết cấu “hai chân” của hòn Trống Mái sẽ bị cưa đứt. Tại thời điểm đó có người nói đùa rằng, hòn Trống Mái đang đứng trên hai “que tăm” bởi trông nó rất chênh vênh, chung chiêng nhất là khi những đợt sóng cao ập vào. Vị chuyên gia còn nói thêm, cũng đã nhiều lần lên tiếng cảnh báo qua mối quan hệ công việc nhưng nhìn chung chưa mấy ai tin, hoặc nhận được câu trả lời đại loại như “trông thế thôi, nó còn vững chãi lắm”.

Tiếp tục đọc “Hòn trống mái ở vịnh Hạ Long có nguy cơ bị gãy, đổ: Cần ngay giải pháp bảo tồn cấp thiết”