Không gian sáng tạo văn hóa Nhà máy Xe lửa Gia Lâm

qdnd.vn

Với các giá trị văn hóa, lịch sử, kiến trúc và không gian rộng mở của một di sản công nghiệp, Nhà máy Xe lửa Gia Lâm được lựa chọn để trở thành nơi tổ chức chuỗi hoạt động chính của Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội 2023.

Nhà máy Xe lửa Gia Lâm (còn gọi là Nhà máy Hỏa xa Gia Lâm) thành lập từ năm 1905, được đặt tại giao điểm của 4 tuyến đường sắt phía Bắc, như một nhân chứng lịch sử của Thủ đô xuyên suốt thời kỳ Pháp thuộc. Đến nay, từ một nhà máy cũ nằm trong diện cần di dời, Nhà máy Xe lửa Gia Lâm được cải tạo thành tổ hợp sáng tạo nhằm “đánh thức” di sản lâu đời, làm đẹp thêm diện mạo Thủ đô.

Không gian sáng tạo văn hóa Nhà máy Xe lửa Gia Lâm
Một toa tàu trưng bày để du khách tham quan tại Nhà máy Xe lửa Gia Lâm. 

Mô hình cải tạo di sản công nghiệp thành không gian văn hóa đã có từ lâu. Trên thế giới có Station F, được biết đến như vườn ươm khởi nghiệp cho giới kinh doanh, được xây dựng trên nền nhà ga xe lửa cũ Halle Freyssinet (Pháp); hay Công viên Landschafts Park, được chuyển đổi từ một tổ hợp sản xuất quặng than và thép (Đức); khu nghệ thuật Art Zone 798, ban đầu là một nhà máy sản xuất đồ điện tử (Trung Quốc)… Ở Việt Nam cũng đã có những mô hình tương tự như: Khu tổ hợp Complex 01 (quận Đống Đa) dựa trên nền nhà máy in bỏ hoang; Trung tâm văn hóa Pháp L’Espace (quận Hoàn Kiếm) cũng là một bằng chứng cải tạo di sản công nghiệp thành công, từ xưởng in cũ của Báo Nhân Dân…

Chia sẻ với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, TS, kiến trúc sư Phan Đăng Sơn, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam cho biết: “Nhà máy Xe lửa Gia Lâm là một di sản công nghiệp đáng quý ở Hà Nội. Việc cải tạo nhà máy thành các không gian sáng tạo nhằm viết tiếp câu chuyện “đánh thức” di sản công nghiệp, phục vụ sự phát triển của Thủ đô nói riêng và nền công nghiệp văn hóa đất nước nói chung. Đây cũng là phương pháp mà thế giới đang theo đuổi. Ở nước ta, hoạt động này còn thí điểm cho sự “lột xác” các địa điểm lịch sử khác đang có nguy cơ xuống cấp hoặc phải di dời trên cả nước. Lễ hội lần này thực sự là cơ hội để các kiến trúc sư, nghệ sĩ tài năng tạo nên những không gian trải nghiệm, triển lãm ấn tượng; thổi hồn cho không khí hân hoan của lễ hội, đóng góp cho mục tiêu gìn giữ những giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống Thủ đô”.

Không gian rộng lớn khoảng 20ha được cải tạo thiết kế, sắp đặt thành một không gian nghệ thuật độc đáo, Nhà máy Xe lửa Gia Lâm mang tới những câu chuyện lý thú với nhiều cung bậc cảm xúc về Thủ đô ngàn năm văn hiến, một Hà Nội sáng tạo, mới lạ, mang đậm tinh thần nghệ thuật. Không gian triển lãm nhà máy khai thác các tài liệu lịch sử, những di sản công nghiệp, kết hợp với tinh thần sáng tạo ra những giá trị văn hóa mới. Đặc biệt, Triển lãm “Thí điểm kiến trúc và sắp đặt không gian ga” diễn ra ở 3 địa điểm: Ga Long Biên, ga Gia Lâm và ga Hà Nội. Thí điểm này mang đến cách nhìn mới mẻ về 3 nhà ga. Đó còn là sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc và nghệ thuật đương đại, với tinh thần nghệ thuật là một phần quan trọng trong công cuộc bảo tồn di sản công nghiệp.

Tạo điểm nhấn cho triển lãm, Ban tổ chức mời du khách trải nghiệm hành trình xe lửa di sản với điểm tham quan từ bốt Hàng Đậu-ga Long Biên-ga Gia Lâm-Nhà máy Xe lửa Gia Lâm. Từ đây, du khách tham quan nhà máy, nơi tổ chức các hoạt động chính tại Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội 2023, tham quan nhiều công trình kiến trúc và đầu máy xe lửa hơi nước Tự Lực, biểu tượng của ngành đường sắt Việt Nam.

Bài và ảnh: THÁI PHƯƠNG

[Ảnh] Khám phá “không gian nghệ thuật” tại Nhà máy Xe lửa Gia Lâm

nhandan.vn – Trong khuôn khổ Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2023, người dân Thủ đô và du khách thật sự choáng ngợp trước các tác phẩm nghệ thuật sắp đặt được trưng bày tại Nhà máy Xe lửa Gia Lâm. 

Chủ nhật, ngày 19/11/2023 – 06:21

Tiếp tục đọc “Không gian sáng tạo văn hóa Nhà máy Xe lửa Gia Lâm”

Soldiers teach special classes for ethnic people in Tây Nguyên

VNN – November 11, 2023 – 08:09

The classes not only help Jrai ethnic people in the village learn to read and write, but also contribute to raising people’s awareness and responsibility in protecting the national borders.

Many JRai students have to bring their children to literacy classes. — VNA/VNS Photo

GIA LAI — Border soldiers in the Tây Nguyên (Central Highlands) province of Gia Lai are assuming the role of teachers to eliminate illiteracy among local ethnic people. 

The residential area of Suối Khôn in the border commune of Ia Mơ, Chu Prông District has 561 residents of the Jrai ethnic minority group, with most of them being very poor.

Currently, there are 71 illiterate people, accounting for 10 per cent of the area’s population.

Ia Lốp Border Guard Station opened classes to teach people and the soldiers are their teachers.

The classes not only help Jrai ethnic people in the village learn to read and write, but also contribute to raising people’s awareness and responsibility in protecting the national borders.

To get to Suối Khôn Residential Area, it takes more than two hours to travel from the city of Pleiku to Ia Pier Commune, then through a dirt road of more than ten kilometres full of mud and slush.

Lieutenant Colonel Nguyễn Văn Thành, secretary of the station’s Party Committee, said that there were 71 Jrai ethnic people who were illiterate, of which 45 people wanted to learn.

The station’s leaders decided to open classes to teach the illiterate people.

Since earlier this year, Ia Lốp Border Guard Station has organised two four-month literacy classes for the Jrai ethnic minority with 25 students.

The teachers are soldiers including Lieutenant Colonel Vũ Văn Hoàng, who teaches math, and Captain Nguyễn Văn Luân, who teaches Vietnamese language.

The entire programme uses literacy learning materials compiled by the Ministry of Education and Training.

The classes, which take place three evenings per week, received the professional support of Hoàng Hoa Thám Primary School in neighbouring Ia Piơr Commune.

Captain Nguyễn Văn Luân said that the journey of mobilising people to come to class encountered many hardships.

“The weather conditions here are very harsh. People mainly work in agriculture and their lives are very difficult,” Luân said.

“Ethnic minorities often feel an inferiority complex and have low self-esteem so they are timid in communication,” Luân said.

“Therefore, we had to go to each household to mobilise and encourage them to boldly come to class,” the captain said.

Soldiers cum teachers of Ia Lốp Border Guard Station come directly to local residents’ houses to urge them to attend literacy classes. — VNA/VNS Photo

Getting people to come to school was difficult, and maintaining class size was even more difficult.

Lieutenant Colonel Vũ Văn Hoàng said that the classes started in the evening, but in the afternoon the teachers had to go to each house to remind people of the class.

Because the students’ ages ranged from 16 to 60, organising classes and teaching methods must be flexible, especially during the crop season. Students have to work hard during the day so many of them cannot attend classes in the evening, said Hoàng.

“So to maintain the classes, the border guard soldiers had to come to help people with farm work or take care of their children to help them feel secure and focus on their studies,” said Hoàng.

Change of life

Kpui H’Lép, 27, is one of the outstanding students. After only four months of studying, she was able to read and write fluently.

H’Lep happily said: “Before, I was illiterate, very self-conscious and shy. I was always oppressed when doing business and criticised when doing housework.”

“But now it is different. I learned how to read and calculate. I thanked the teachers for helping me and other people in the village to have a better life,” she said.

Another student, Rơ Lan H’Cúc, 26, residing in Sâm Village, Ia Piơr Commune, has a two-year-old daughter whom she has to carry to evening classes.

Rơ Lan H’Cúc often sits at the back of the class but is very diligent and serious.

“I regretted not being literate earlier. Now I have the opportunity to learn many things from teachers. The teachers not only taught us how to read and write but also gave us books, pens, babysitting and farming instructions,” Rơ Lan H’Cúc said.

“I am very grateful to the teachers,” she said.

Suối Khôn residential area was formed in 2003. Most of residents are the Jrai ethnic minority.

Since its formation until now, this residential area has not yet received basic investment in electricity, roads, and schools, and people haven’t fully benefited from social security policies.

The reason is because this land belongs to the administrative boundaries of Ia Mơ Commune but the population is managed by another commune, Ia Piơr Commune.

Hà Văn Tin, vice chairman of the People’s Committee of Ia Piơr Commune, Chu Prông District, said that the authorities of Ia Piơr and Ia Mơ communes and the people in the area hoped that the competent authorities would soon allow the establishment of Khôl Village under Ia Mơ Commune according to a project since April 2022.

This is a condition for Suối Khôn Residential Area to be better managed and develop in the future, Tin said. — VNS

Soldiers of the Ia Lốp Border Guard Station teach literary classes for JRai ethnic minority people. — VNA/VNS Photo

Việt Nam says xin chào to music tourism

VNN – November 12, 2023 – 08:17

An image taken before South Korean girl band Black Pink’s Born Pink Tour in Hà Nội in July. Tourist arrivals in the city jumped 2.5-fold to 170,000, including 3,000 foreigners, during their two-day concerts. — VNA/VNS Photo Tuấn Đức

The recent successful shows of famous international singers and bands show that Việt Nam is capable of organising mega global shows.

By Thu Ngân

For weeks Hanoian Bùi Trang Dung was unable to decide where to take her family for vacation last summer.

“This place is beautiful in the summer, that place has many delicious foods and the other one is cheaper.” These were the words that constantly ran in the 42-year-old’s mind.

She then came across a piece of information about a music show by a famous singer she loved in Mù Cang Chải in the northern province of Yên Bái.

The holiday destination instantly chose itself: It was to be Mù Cang Chải.

Tiếp tục đọc “Việt Nam says xin chào to music tourism”

Dự án khu đô thị quây núi đá vịnh Hạ Long làm ‘hòn non bộ’

tiengphong.vn

TPO – Hàng loạt núi đá di sản vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) đang bị một dự án quy mô quây kín. Trao đổi với Tiền Phong, đại diện lãnh đạo Ban Quản lý vịnh Hạ Long khẳng định vị trí thực hiện dự án nằm trong vùng đệm của vịnh Hạ Long.

Nhiều ngày nay, khu vực phường Quang Hanh, TP Cẩm Phả (Quảng Ninh) xuất hiện hàng đoàn xe chở đất đá san lấp dự án. Đoàn xe ‘hổ vồ’ này không hề có bạt che phủ khi lưu thông trên đường và có dấu hiệu quá tải.

Theo tìm hiểu, đây là dự án Khu đô thị 10B, được UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt năm 2021. Hiện dự án đang được triển khai thực hiện.

Điều đặc biệt, dự án này lấn ra vịnh Hạ Long cả cây số tính từ đường bao biển Hạ Long – Cẩm Phả.

Tiếp tục đọc “Dự án khu đô thị quây núi đá vịnh Hạ Long làm ‘hòn non bộ’”

Lịch sử thăng trầm 4000 năm của người Do Thái

Nghiencuulichsu.com – 28-11-2018

Moses leading the Israelites out of Egypt. Tranh của Molnár, 1861

Đặng Hoàng Xa

Mọi sự đều sẽ hết, nhưng người Do Thái thì không. Tất cả các thế lực khác sẽ qua đi, nhưng Họ vẫn còn. Bí mật trong sự bất tử của Họ là gì?” – Văn hào Mark Twain

 Người Do Thái trên vùng đất Israel (Canaan)

Sự ra đời của đức tin

Người Do Thái có nguồn gốc từ người Hebrew cổ đại xuất hiện tại Trung Đông vào 4.000 năm trước. Theo truyền thuyết, người Do Thái và người Ả Rập là con cháu dòng dõi từ Abram (tên lúc sinh của Abraham) là người đã vâng theo lời gọi của Thượng Đế rời bỏ quê hương ở thành Ur thuộc phía Bắc vùng Mesopotamia (Lưỡng Hà) – nay là Đông-Nam Thổ Nhĩ Kỳ, đến lập nghiệp tại xứ Canaan, một vùng đất kéo ngang từ bờ sông Jordan tới biển Địa Trung Hải ngày nay.

Tiếp tục đọc “Lịch sử thăng trầm 4000 năm của người Do Thái”

The Palestinian misuse, and Zionist abuse, of the Holocaust

Both sides are guilty of invoking the Holocaust, but the Palestinians do it defensively, the Israelis offensively.

In truth, the Palestinians have been so impacted by the implications of the Holocaust, albeit indirectly, that they have never truly understood its essence or comprehended its evil. Arabs are no strangers to colonial, imperial or ethnic violence, but nothing like the industrial-scale crimes perpetrated by Nazi Germany.

Aggrieved and angry, the Palestinians have long believed that it was they who paid the price for the horrors inflicted upon Jews in Europe…

…After all, the early Zionists chose to settle and build a homeland for Jews in Palestine nearly half a century before the Holocaust, knowing all too well that it is the homeland of another people. They wished it cleansed of its non-Jewish inhabitants.

Palestinian President Mahmoud Abbas in Berlin alongside German Chancellor Olaf Schultz on August 16. Abbas accused Israel of committing "50 Holocausts" against the Palestinian people.
Palestinian President Mahmoud Abbas in Berlin alongside German Chancellor Olaf Schultz on August 16. Abbas accused Israel of carrying out ’50 Holocausts’ against the Palestinian people [Reuters]
Tiếp tục đọc “The Palestinian misuse, and Zionist abuse, of the Holocaust”

Vietnamese buddhism: Influence of buddhist culture in vietnam during Ly- Tran dynasty (1009-1400 A.D.)

International Journal Of Current Research.

Author: Le Chi Luc Ph.D. Research Scholar, Mahayana Buddhist Studies, Acharya Nagarjuna University, Guntur-522510, A.P, India

Abstract: Ly-Tran dynasty (1009 – 1400 A.D.) was the peak period of Vietnamese feudalism history. It was also known as the golden age of Vietnamese Buddhism. Therefore, the finding of study aim on the explore influence of Buddhist culture in Vietnam during Ly-Tran Dynasty (1009-1400 A.D.), that finds absorbed and deeply influenced in Vietnamese culture. This article addresses the main influences of Buddhist culture on the decisive ideology of this period, which is the premise to create a great landmark in the history of Vietnamese Buddhism finds the influence several aspects related the Vietnamese Buddhists 4 aspects as followed (1) influence on political – social thought, (2) influence on traditional and customs of Vietnamese, (3) influence on literature, and (4) influence on architecture and sculpture.

Download PDF file:  36536.pdf

Climate Change History – PM of the UK, Margaret Thatcher – Speech to UN (Nov. 8, 1989)

Prime Minister of the UK, Margaret Thatcher studied chemistry at Oxford, and worked briefly as a research chemist before becoming a barrister

Mr President, it gives me great pleasure to return to the Podium of this assembly. When I last spoke here four years ago, on the 40th anniversary of the United Nations, the message that I and others like me gave was one of encouragement to the organisation to play the great role allotted to it.

Of all the challenges faced by the world community in those four years, one has grown clearer than any other in both urgency and importance—I refer to the threat to our global environment. I shall take the opportunity of addressing the general assembly to speak on that subject alone.

INTRODUCTION

Tiếp tục đọc “Climate Change History – PM of the UK, Margaret Thatcher – Speech to UN (Nov. 8, 1989)”

“My people are not threatened by silence. They are completely at home in it.”

Miriam-Rose Ungunmerr-Baumann (Aboriginal activist, educator, artist and 2021 Senior Australian of the year)

*The Indigenous People of Australia have a depth of spirituality that can enrich our NonIndigenous spirits in so many ways. One of these spiritual gifts is Dadirri. Aboriginal people practice deep listening, an almost spiritual skill, based on respect. ‘Dadirri’ is an Aboriginal word meaning ‘inner deep listening and quiet still awareness and waiting‘*

My people are not threatened by silence. They are completely at home in it. They have lived for thousands of years with Nature’s quietness. My people today recognise and experience in this quietness the great Life-Giving Spirit, the Father of us all. It is easy for me to experience God’s presence. When I am out hunting, when I am in the bush, among the trees, on a hill or by a billabong; these are the times when I can simply be in God’s presence. My people have been so aware of Nature. It is natural that we will feel close to the Creator. Our Aboriginal culture has taught us to be still and to wait. We do not try to hurry things up. We let them follow their natural course – like the seasons. We watch the moon in each of its phases. We wait for the rain to fill our rivers and water the thirsty earth…

When twilight comes, we prepare for the night. At dawn we rise with the sun.

We watch the bush foods and wait for them to ripen before we gather them. We wait for our young people as they grow, stage by stage, through their initiation ceremonies. When a relation dies, we wait a long time with the sorrow. We own our grief and allow it to heal slowly.

We wait for the right time for our ceremonies and our meetings. The right people must be present. Everything must be done in the proper way. Careful preparations must be made. We don’t mind waiting, because we want things to be done with care.

We don’t like to hurry. There is nothing more important than what we are attending to. There is nothing more urgent that we must hurry away for.

We wait on God, too. His time is the right time. We wait for him to make his word clear to us. We don’t worry. We know that in time and in the spirit of dadirri (that deep listening and quiet stillness) his way will be clear.

We are river people. We cannot hurry the river. We have to move with its current and understand its ways.

We hope that the people of Australia will wait. Not so much waiting for us – to catch up – but waiting with us, as we find our pace in this world.

If you stay closely united, you are like a tree, standing in the middle of a bushfire sweeping through the timber. The leaves are scorched and the tough bark is scarred and burnt; but inside the tree the sap is still flowing, and under the ground the roots are still strong. Like that tree, you have endured the flames, and you still have the power to be reborn.

Our culture is different. We are asking our fellow Australians to take time to know us; to be still and to listen to us.–

Miriam-Rose Ungunmerr-Baumann (Aboriginal activist, educator, artist and 2021 Senior Australian of the year)

Full text of the reflection: https://www.dadirri.org.au/wp-content/uploads/2015/03/Dadirri-Inner-Deep-Listening-M-R-Ungunmerr-Bauman-Refl1.pdf?fbclid=IwAR277ZxWsZsLFMb2i8sSmYaSLzrMbBfcrwtDxZPp9eBEWCCADQM1_1yQifI

Learn more about Miriam Rose Foundation: https://www.miriamrosefoundation.org.au/about-miriam-rose-foundation/

Negotiations and Vietnam: A Case Study of the 1954 Geneva Conference

Descriptive Note: Memorandum Corporate Author: RAND CORP SANTA MONICA CA Personal Author(s): Gurtov, Melvin Report Date: 1968-07-01 Abstract: An analysis is made of 1 U.S. policy and diplomacy during the 1954 Geneva Conference on Indochina, 2 the objectives of the participants in the conference, 3 the tactics used during the negotiations, and 4 the implications of those tactics for the present conflict. Although Vietnamese unity was not a priority objective of China or the Soviet Union, neither power may have expected a South Vietnamese regime to survive until the national elections. The U.S. goal, among others, was to maximize the Saigon governments chances of posing an authentic challenge in the elections of 1956. In terms of the present conflict, additional Communist participation might complicate rather than strengthen Hanois position by increasing the opportunity for division on issues of troop withdrawal and political settlement. Saigons influence could be reduced if the United States were to limit South Vietnams role to talks with the Viet Cong. In the realm of tactics, Geneva indicates, first, that an ambiguous commitment on the part of the United States to a negotiated settlement can have far greater value than an obvious disposition to accept terms second, that the threat of a use of force hitherto restrained can be more valuable to the U.S. bargaining position than force already applied. Full report https://www.rand.org/content/dam/rand/pubs/research_memoranda/2005/RM5617.pdf

Thanh thiếu niên dân tộc thiểu số và những rủi ro liênquan đến mua bán người trên mạng xã hội

Nghiên cứu tại Hà Giang, Điện Biên và Lào Cai

Nghiên cứu “Thanh thiếu niên dân tộc thiểu số và những rủi ro liên quan đến mua
bán người trên mạng xã hội” được thực hiện bởi Viện iSEE, Blue Dragon với sự hỗ
trợ tài chính và kỹ thuật của SecDev vào đầu năm 2021 tại Điện Biên, Hà Giang
(hiện là địa bàn hoạt động của Blue Dragon) và Lào Cai (chưa có hoạt động của
Blue Dragon), với mục tiêu tìm hiểu về thực trạng sử dụng Mạng Xã Hội và các
dịch vụ Internet của thanh thiếu niên Dân tộc Thiểu số cũng như những rủi ro
họ gặp phải liên quan đến nạn mua bán người hiện nay, từ đó đưa ra khuyến nghị
thiết thực cho các thông điệp và can thiệp truyền thông.
Nghiên cứu này được thiết kế kết hợp giữa một điều tra định lượng với 624 học
sinh và thanh thiểu niên DTTS tại Hà Giang và Điện Biên (bao gồm 40.9% dân
tộc Mông, 39.6% dân tộc Thái, còn lại gồm các dân tộc Khơ Mú, Dao, Tày, Giáy,
vv..), và một nghiên cứu định tính dựa trên 14 TLN và 34 PVS trực tiếp với thanh
thiếu niên, học sinh, giáo viên tại ba địa bàn nghiên cứu và cán bộ chương trình
của Blue Dragon.

Tải báo cáo tại đây https://www.isee.org.vn/thu-vien/nghien-cuu-thanh-thieu-nien-dan-toc-thieu-so

Đồng hành phát triển: Bài học từ hành trình hơn một thập kỷ làm viẹc cùng các cộng đồng dân tộc thiểu số tại Việt Nam

Xem báo cáo tại đây

Hơn 10 năm làm chương trình Dân tộc thiểu số của viện iSEE là 10 năm của học hỏi và bồi đắp thêm tri thức về phát triển. Những lý thuyết, những phương pháp tiếp cận chúng tôi viết trong tài liệu này là những kết quả của quá trình phản tư và học liên tục để lựa chọn chứ không phải là thứ được chọn ngay tại thời điểm khai sinh của chương trình năm 2008. Trong cả tiến trình ấy, điểm neo chúng tôi lại để chất vấn, phản tư, và học hỏi là những giá trị của iSEE – Tự do, Bình đẳng, Khoan dung – và tầm nhìn về vấn đề mà iSEE muốn thay đổi, là vẻ đẹp trong cách nghĩ, cách sống của các thành viên nhóm Tiên phong và cộng đồng của các anh chị tại địa phương.

Trên chặng đường hoạt động và xây dựng chương trình Dân tộc thiểu số, chúng tôi đi lên từ những nghiên cứu
dưới góc tiếp cận nhân học, lấy trải nghiệm và hoạt động của cộng đồng các tộc người thiểu số làm trung tâm.
Trong quá trình này, chúng tôi đã nhìn thấy chính mình trong những phê phán về tư duy phát triển của số đông.
Chúng tôi dần tích lũy tri thức và thấu hiểu hơn những trở ngại mang tính hệ thống đối với các nhóm dân tộc
thiểu số. Một trong những trở ngại lớn nhất là sự chấp nhận một cách thiếu phê phán trên diện rộng đối với tư
duy tiến hoá luận, lối suy nghĩ cho rằng họ luôn mặc nhiên ở nấc thang phát triển thấp hơn so với người Kinh. Với
niềm tin mạnh mẽ vào tính chủ thể và năng lực văn hoá của cộng đồng, và nhất là những thay đổi do chính cộng
đồng tạo ra, trong hơn một thập kỷ qua, chúng tôi đã có cơ hội đồng hành và trải nghiệm hành trình Tự hào – Tự
tin- Tự chủ với cộng đồng các dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam. Mục tiêu của chúng tôi là cùng với họ bồi
đắp khát vọng tạo dựng một tương lai chung, nơi câu chuyện của cộng đồng các dân tộc thiểu số được chia sẻ,
lắng nghe, thấu hiểu, và trở thành một nguồn cảm hứng cho suy tư về bình đẳng và phát triển. Hành trình này
của chúng tôi đi qua rất nhiều thách thức, với nhiều hoài nghi từ bên ngoài cũng như sự phản tư từ chính những
người xây dựng và tham gia. Đó cũng là tiến trình tất yếu để thử thách và củng cố niềm tin vào sức mạnh của cộng
đồng, cũng chính là triết lý phát triển mà chúng tôi đã và đang theo đuổi.


Tài liệu này là một phần trong nỗ lực tái hiện và chia sẻ rộng rãi triết lý phát triển ấy. Với cấu trúc
4 phần có liên hệ chặt chẽ và phản ánh lẫn nhau, chúng tôi bắt đầu với phần Đặt vấn đề lý giải những băn khoăn
và lựa chọn vào thời điểm bắt đầu, tiếp đến giới thiệu các Lý thuyết nền tảng mà chúng tôi đã may mắn được
tiếp cận và học hỏi. Phần 3 minh họa các Chiến lược và hành động mà Viện iSEE đã vận dụng các lý thuyết trong
triển khai thực tế cùng với cộng đồng. Cuối cùng, phần 4 tổng kết những Bài học kinh nghiệm chúng tôi tự đúc
kết sau chặng đường hơn một thập kỷ.


Chúng tôi vô cùng biết ơn các nhà nghiên cứu TS. Phạm Quỳnh Phương, TS. Hoàng Cầm, TS. Nguyễn Thu Giang
đã truyền cảm hứng và giúp chúng tôi tiếp cận với các lý thuyết từ những ngày đầu tiên. Chúng tôi trân trọng
sự ủng hộ và hợp tác của các tổ chức đối tác như Đại sứ quán Ireland, Đại sứ quán Canada, Đại sứ quán Hà Lan,
Ủy ban Dân tộc, Tổ chức CCFD Terre-Solidaire, Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam, Tổ chức Oxfam tại Việt Nam,
Tổ chức Plan International Việt Nam, Trung tâm xây dựng năng lực cộng đồng CECEM v.v. Chúng tôi chân thành
cảm ơn các đồng nghiệp và các tư vấn đã đặt nền móng, cùng xây dựng và chia sẻ trong suốt những năm qua.
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đặc biệt nhất tới các thành viên Mạng lưới Tiên Phong vì tiếng nói của người dân
tộc thiểu số đã tin tưởng và đồng hành với chúng tôi trên hành trình học hỏi và hiện thực hóa niềm tin của mình.
Trong quá trình hoàn thành tài liệu này, chúng tôi được tham vấn và hỗ trợ rất nhiều từ các chuyên gia và các
thế hệ lãnh đạo iSEE – ThS. Lê Quang Bình, Th.S Lương Minh Ngọc và Th.S Lương Thế Huy. Chúng tôi cũng nhận
được sự hỗ trợ nhiệt tình của TS. Nguyễn Thu Giang trong vai trò hiệu đính.


Chúng tôi hy vọng độc giả sẽ tìm được những kiến thức và kinh nghiệm bổ ích qua những chia sẻ của mình,
và hơn thế nữa, có thêm động lực để tiếp tục tìm tòi và khám phá những cách làm mới để tạo ra sự phát triển
có ý nghĩa.

Một số nội dung và giá trị cơ bản về quyền con người trong “Quốc Triều Hình Luật” – Luật Hồng Đức

phapluatdansu.edu.vn Tạp chí Triết học số 7 (194) năm 2007

NGUYỄN THANH BÌNH – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Quốc triều hình luật (hay còn gọi là Lê triều hình luật) được xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh trong các triều đại phong kiến Việt Nam thời Lê sơ. Bộ luật này được vua Lê Thánh Tông ban hành vào năm 1483  trong thời gian ông lấy niên hiệu là Hồng Đức (1470-1497), nên trong dân gian và trong sử sách vẫn thường gọi bộ luật này là Luật Hồng Đức(1).

Tất nhiên, cho đến nay, vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau về thời điểm khởi thảo và thời điểm hoàn chỉnh bộ luật này. Trong thiên Hình luật chí (sách Lịch triều hiến chương loại chí), Phan Huy Chú cũng như dựa trên nhiều nguồn tư liệu khác và theo quan điểm chung của nhiều nhà nghiên cứu thì bộ luật này được xây dựng trên cơ sở sưu tập tất cả các điều luật, các văn bản pháp luật đã ban bố và thi hành trong các đời vua trước đây, được sửa chữa, bổ sung và san định lại cho hoàn chỉnh(2). Song, trong Lời nói đầu của cuốn Quốc triều hình luật do Viện Sử học Việt Nam dịch và giới thiệu thì bộ luật trên có thể được soạn thảo ngay năm đầu của triều Lê sơ (Lê Thái Tổ) và “không ngừng được các triều vua kế tiếp bổ sung, hoàn chỉnh dần, trong đó chắc chắn là có những đóng góp to lớn của ông vua nổi tiếng văn hiến Lê Thánh Tông”(3). Có thể khẳng định rằng, Luật Hồng Đức là bộ luật tiến bộ nhất, hoàn chỉnh nhất trong các bộ luật ở Việt Nam thời phong kiến; là thành tựu có giá trị đặc biệt trong lịch sử pháp luật Việt Nam; là một trong những thành tựu tiêu biểu của nền văn hiến nước ta. Bộ luật ấy chứa đựng nhiều giá trị nhân văn sâu sắc và nội dung tư tưởng rộng lớn, là cơ sở nền tảng trong việc xây dựng nhà nước phong kiến thịnh trị thời Lê sơ.

Tiếp tục đọc “Một số nội dung và giá trị cơ bản về quyền con người trong “Quốc Triều Hình Luật” – Luật Hồng Đức”

Thân phận người phụ nữ trong bộ luật Hồng Đức thời hậu Lê

 danviet.vn Thứ ba, ngày 15/06/2021 22:56 PM (GMT+7)

Với Bộ luật Hồng Đức, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, người phụ nữ được pháp luật quy định một loại quyền đặc biệt…

Bộ luật Hồng Đức là 1 trong 4 bộ tổng luật thành văn trong lịch sử lập pháp Việt Nam (cùng với bộ Hình thư thời Lý, bộ Quốc triều thông chế thời Trần và bộ Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn). Bộ luật Hồng Đức là sản phẩm của việc pháp điển hóa pháp luật thời Lê sơ, hiệu lực của nó không chỉ duy trì trong hơn 300 năm thời Hậu Lê; mà kể cả thời Nguyễn sau này hay hệ thống pháp luật Việt Nam hiện đại cũng đã kế thừa nhiều thành tựu lập pháp trong bộ luật Hồng Đức.

Thân phận người phụ nữ trong bộ luật Hồng Đức thời hậu Lê - Ảnh 1.
Hai người phụ nữ thời Lê trong Hoàng Thanh chức cống đồ.

Bộ luật Hồng Đức bao gồm 722 điều, chia thành 13 chương; nhưng không phải tất cả các điều luật này đều được ban hành trong thời kì Hồng Đức (1470-1497). Ví dụ, điều 388 bộ luật Hồng Đức được ban hành vào năm Quang Thuận thứ 2 (1461); điều 389 bộ luật Hồng Đức được ban hành vào năm Hồng Thuận thứ 3 (1511), điều 391 bộ luật Hồng Đức được ban hành vào năm Quang Thiệu thứ 2 (1517)…

Tiếp tục đọc “Thân phận người phụ nữ trong bộ luật Hồng Đức thời hậu Lê”