Nguyễn Cung Thông
nguyencungthong@yahoo.com

Trong tiến trình hội nhập với đà tiến hóa của văn minh hiện đại, chúng ta cần phải nhìn lại một cách khác quan vài đặc tính của tư duy người Việt Nam qua các tập tục từ ngàn xưa và phản ánh qua ngôn ngữ cận đại, trọng tâm của loạt bài này. Có hiểu quá trình cấu tạo các khái niệm về thời gian như chữ thời thì mới hy vọng phần nào hiểu được tại sao người Việt Nam thường đi đến các buổi họp mặt (như làm việc, giỗ, tiệc trà, đám cưới …) không theo đúng thời hạn và sau đó là tìm ra các phương pháp cải cách lề lối suy nghĩ không hợp thời như vậy.
Các tính tốt hay tích cực như tinh thần cộng đồng, giúp đỡ lẫn nhau (Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn) thì ráng giữ lấy, còn một số tư duy không phù hợp với thời đại nữa thì cần phải xem lại như ‘chứng bệnh’ giờ cao-su (giờ dây thun). Tiếp tục đọc “Tản mạn về từ Hán Việt thời – thì (phần 6.2)”
>

Một chiều mưa phùn gió bấc, tôi qua cầu Long Biên, dừng xe ngắm nhìn dòng sông Hồng trơ cạn… Đây là dòng sông đỏ lựng phù sa mà biết bao nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, hoạ sĩ, nhà điện ảnh… đã tìm thấy nguồn cảm hứng nghệ thuật vô tận và mãnh liệt của mình! Và tôi bỗng nghĩ đến cái Dự án “Thành phố Sông Hồng”- một công cuộc chỉnh trang lại đê điều sông Hồng lớn nhất trong lịch sử kể từ khi Hà Nội và châu thổ sông Hồng có đê ngăn lũ; và ít ai biết được rằng: Dự án đó lại xuất phát từ tình yêu sông Hồng và ý tưởng của một hoạ sĩ- hoạ sĩ Vũ Văn Thơ…
NTT: Nhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo dõi văn nghệ sĩ và văn hóa) đã gửi tới NTT.ORG một chuyên luận dài về Nhân Văn Giai Phẩm, và chúng tôi đã đăng làm 5 kỳ từ đầu tháng 8/2010, được nhiều trang mạng đăng lại. Nay tác giả đã chỉnh sửa lại bài viết của mình và nhờ NTT.ORG đăng lại trọn vẹn bài viết này. Các bạn hãy đọc nó như đọc một “góc nhìn” về sự thật.





Là một người thơ yêu thiên nhiên, yêu hoa cỏ đến độ ” Tình có nụ cười bối rối các loài hoa”, NNB – người tự nhận là “một lãng du yêu”, trong khi nói về các loài hoa như trà mi, hoa sữa, hoa quỳnh, cả loại “hoa chân chim” – bước chân của “chim trống lặn lội đi tìm” chim cái, v.v, anh không thể không nói đến Hoa nhài. Phải chăng, “Hoa thơm ai giắt mái đầu/Mây kia bất tử một mầu nhớ thương” mà NNB ngẩn ngơ, trước hết chính là hoa nhài? Ta có thể hình dung, trong một đêm nọ, “Sân trăng tình lại ngồi kề bên nhau/ Mái đầu lại chụm mái đầu “, người thơ đã kể về một loài hoa thực đáng yêu song từng bị chịu đựng nhiều bất công hơn cả – đó là hoa nhài: