Ấn tượng nhân văn từ “Lá đơn thứ 72”

sggp.org 9/05/2022 08:00 (GMT+7)

(ĐTTCO) – Hướng đến kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ, Sân khấu tư nhân Lệ Ngọc công diễn vở kịch “Lá đơn thứ 72” nói về câu chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo xử lý thư kêu cứu của người dân bị án oan. NSND Lê Tiến Thọ ở tuổi 71 được mời làm đạo diễn, còn NSND Vương Duy Biên ở tuổi 64 đảm nhận vai trò thiết kế mỹ thuật. 

Một cảnh trong vở kịch “Lá đơn thứ 72”.
Một cảnh trong vở kịch “Lá đơn thứ 72”.

NSND Lê Tiến Thọ là một nhân vật nổi tiếng bậc nhất trong nghệ thuật tuồng Việt Nam, với các vai diễn trong “Suối đất hoa”, “Hoàng hôn đen”, “Lý Phụng Đình”… và còn thể hiện năng lực trong vai trò đạo diễn các vở tuồng “Thiếu phụ Nam Xương”, “Lý Chiêu Hoàng”, “Dũng khí Đặng Đại Độ”…

Ông cũng là tác giả của nhiều kịch bản tuồng như “Chuyện tình ông vua”, “Hoàng thúc Lý Long Tường”, “Vụ án Lệ Chi Viên”… NSND Lê Tiến Thọ được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2012. Sau nhiều năm làm Giám đốc Nhà hát tuồng Việt Nam, ông tiếp tục đảm nhận những vị trí Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn, Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao – Du lịch, Chủ tịch Hội Sân khấu Việt Nam… 

Tiếp tục đọc “Ấn tượng nhân văn từ “Lá đơn thứ 72””

Two Koreas, Two Development Policies

cfr.org

How did two countries with the same language, culture, and history turn out so differently?

Last Updated April 28, 2023

North Korean and South Korean leaders walking towards each other with arms extended for a handshake.

South Korean President Moon Jae-in and North Korean leader Kim Jong Un shake hands at the truce village of Panmunjom inside the demilitarized zone separating the two Koreas, South Korea, April 27, 2018.

Source: Korea Summit Press Pool via Reuters.SHARE

South Korea is one of the world’s most successful economies. It’s home to billion-dollar corporations like Samsung and produces some of the best high-tech electronics. But just across the border, North Korea is one of the most impoverished countries in the world. How can two countries with the same language, culture, and history—that were, not long ago, one united country—turn out so differently?

North and South Korea had been one nation for over a thousand years. Theoretically, they could have developed similarly after splitting in 1945, at the end of World War II. In fact, North Korea possessed the resources to outpace the south in development. But the political and economic decisions their leaders made destined the countries for completely different futures.

https://datawrapper.dwcdn.net/gOOgt/1/

The Division of the Koreas

Tiếp tục đọc “Two Koreas, Two Development Policies”

A controversial article praises colonialism. But colonialism’s real legacy was ugly.

washingtonpost.com September 19, 2017 at 6:00 a.m. EDT

Women and children prepare to flee with their belongings near the Central African Republic town of Grimari on May 7, 2014. (Siegfried Modola/Reuters)

How many of today’s problems in the Global South are a direct legacy of colonialism? A recent journal article by Bruce Gilley,  “The Case for Colonialism,” kicked up great controversy by arguing that the “orthodoxy” that Western colonialism was universally harmful to colonized peoples and countries is overstated. Colonialism, Gilley writes, was “both objectively beneficial and subjectively legitimate” in many places.

Gilley, a political scientist at Portland State University, studies Chinese politics and recently made waves for resigning his membership in the American Political Science Association over its alleged lack of political diversity. His article in Third World Quarterlyhowever, ignores many existing studies that answer these questions with better data and more rigorous analysis, and which come to a resounding conclusion of “no.”

Tiếp tục đọc “A controversial article praises colonialism. But colonialism’s real legacy was ugly.”

What Is Colonialism and How Did It Arise?

CFR.org Last Updated February 14, 2023

Explore how colonialism enriched empires and fundamentally reshaped countries such as India.

A Hindu servant serves tea to a European colonial woman in this undated photograph.

A Hindu servant serves tea to a European colonial woman in this undated photograph. Source: George Rinhart/Corbis via Getty ImagesSHARE

In the late seventeenth century, the Mughal Empire controlled almost all of the Indian subcontinent.

European visitors marveled at the empire’s wealth and grandeur. Antonio Monserrate, a Portuguese Jesuit missionary, called its cities “second to none either in Asia or in Europe with regards either to size, population, or wealth.”

For centuries, merchants around the world had traveled to India, eager to trade for coveted silk, spices, and textiles. And in 1700, India’s economy was larger than all of Western Europe’s put together, making up nearly 25 percent of the global economy. By 1973, however, that number had dropped to just 3 percent. 

How did this happen?

The full story is long, winding, complex, and contentious. It involves centuries of war, technological innovation, and global trade that sent some economies soaring and brought others crashing down. But central to this story for India—and for so many countries around the world—is the history of colonialism, the practice of controlling another country or area and exploiting its people and resources.

Tiếp tục đọc “What Is Colonialism and How Did It Arise?”

1,000 years of history sandwiched between Red River and Mekong delta on the Reunification Express through Vietnam

scmp.com Published: 1:15pm, 3 Sep, 2023

A journey from Hanoi, the Vietnamese capital, via former capitals Ninh Binh and Hue, to Ho Chi Minh City, its investment capital, reveals much about the country

It’s difficult not to think about trains while in downtown Hanoi, especially at mealtimes.

Long metal caravans shunting through town in plain view of the near-ubiquitous streetside eateries contribute a periodic clappity-clap rhythm to the city’s clamorous soundtrack.

Tracks girdle the historical heart of the Vietnamese capital like the head of a question mark and in doing so, connect two of Hanoi’s most popular sites: the Long Bien Bridge, a colonial structure spanning the Red River that was bombed so many times during the Vietnam war it became a symbol of national resistance, and Ngo 224 Le Duan (better known as Train Street), an alleyway along which trains pass perilously close to houses and makeshift cafes.

However, my travel inspiration comes not from the recurrent glimpses of locomotives, but from an old propaganda poster hanging in a tourist shop opposite the Cathedrale Saint-Joseph de Hanoi.

A train nuzzles its way down “Train Street”, a modern-day tourist attraction in Hanoi, Vietnam. Photo: Thomas Bird
Tiếp tục đọc “1,000 years of history sandwiched between Red River and Mekong delta on the Reunification Express through Vietnam”

Theravada Buddhism intheSpiritual Life ofKhmer People intheSouthern of Vietnam: Position, Role and Values

psychologyandeducation.net

Nguyen Huu Tho, Kien Giang University

Buddhist philosophy has long permeated the Khmer ethnic community. In this community, the relationship between ethnicity (Khmer people) and religion (Theravada Buddhism) is closely linked together. The Southern Khmer temple is a cultural center of this ethnic group. This place is associated with cultural activities and folk rituals, and at the same time is a traditional school that teaches the knowledge, human ethics, and handicraft. The pagoda is like a museum about Buddhism and the art of “Phum” and “Soc”, a place for Khmer people to rely on their souls when they live and send their ashes when they die. This study refers to the position and role of Theravada Buddhism for Khmer people. From there, state the current situation and make recommendations to the Vietnam Buddhist Sangha and state management agencies, in order to contribute to preserving and promoting the values ​​of Khmer Theravada Buddhism and strengthening the great national unity bloc.

Article Details Vol. 58 No. 5 (2021): Vol. 58 No. 5 (2021)

Phương pháp giải quyết vấn đề và Tứ Diệu Đế (phần 2)


Nguyễn Cung Thông

Phần này bổ túc cho bài Phương pháp giải quyết vấn đề và Tứ Diệu Đế (phần 1). Phần 2 đề nghị một cách tiếp cận mới dựa vào ngôn ngữ so sánh: nhất là khi tiếng Việt và Hán Việt (môi trường dịch kinh Phật Giáo truyền thống ở VN) đã có một quá trình giao lưu rất lâu đời.

Các chữ viết tắt là ppgq (phương pháp giải quyết vấn đề), tdđ (Tứ Diệu Đế), NCT (Nguyễn Cung Thông), PG (Phật Giáo), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên m Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716). Lý và kỳ có thể viết là lí và kì trong loạt bài này.

Phần 1 đã cho thấy tdđ là một phương pháp giải quyết vấn đề qua bốn giai đoạn dễ nhớ và đơn giản: mức độ đơn giản càng cao thì mức độ ứng dụng phổ quát (universality) càng cao. Ai cũng có thể áp dụng tdđ mà không cần phải học chuyên môn về ngành nào cả. Như đã bàn trong phần 1, tdđ còn tương ứng mật thiết với quá trình chữa bệnh trong y khoa: Khổ đế liệt kê hiện trạng bệnh tình (bệnh lý), Tập đế đi vào các nguyên nhân cốt lõi, Diệt đế cho phương án hay uống thuốc dứt bệnh và Đạo đế cho ta những hoạt động và kỹ thuật để không còn bệnh nữa (ngừa bệnh so với chữa bệnh). Tdđ là một thành phần cốt lõi của PG, một ppgq tổng quát. Những ai không là phật tử cũng có thể dùng ppgq này, và cũng có khi chính mình đã từng sử dụng nhưng không ý thức được.

 

Phương pháp giải quyết vấn đề và Tứ Diệu Đế (phần 2)

Hòn trống mái ở vịnh Hạ Long có nguy cơ bị gãy, đổ: Cần ngay giải pháp bảo tồn cấp thiết

baovanhoa.vn Thứ Hai 14/08/2023 | 08:01 GMT+7

VHO-  Có thể nói, hòn Trống Mái nằm ngay ở ví trí trung tâm của di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, là biểu tưởng du lịch nổi tiếng trong nước và quốc tế của vùng đất này, nhưng lại đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ đổ, trượt nếu chính quyền, cơ quan chức năng sở tại không có ngay giải pháp bảo tồn cấp thiết.

Hòn Trống Mái được giới chuyên gia cảnh báo có nguy cơ cao bị gãy, trượt

Cuộc hội thảo góp ý cho Báo cáo tổng kết và các sản phẩm chính của nhiệm vụ khoa học công nghệ “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và các yếu tố ảnh hưởng làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn hòn Trống Mái, vịnh Hạ Long” diễn ra từ hồi cuối tháng 7 vừa qua, tuy nhiên cho đến nay theo tìm hiểu của chúng tôi, các bên liên quan vẫn chưa có những động thái mạnh mẽ cho vấn đề “cấp cứu” biểu tượng có một không hai của di sản vịnh Hạ Long.

Còn nhớ vào cuối năm ngoái, chúng tôi cùng đoàn chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau có chuyến tham quan vịnh Hạ Long, và một trong những điểm đến là hòn Trống Mái. Cơ duyên đưa đến địa điểm này không hề xuất phát từ sự tò mò hay chụp ảnh lưu niệm vì biểu tượng này đã nằm lòng trong sự yêu thích của biết bao du khách, mà trong đoàn có một chuyên gia về địa chất mong muốn mọi người có cái nhìn thực địa ở khoảng cách gần nhất có thể để nhận diện rõ hơn về sự ăn mòn đáng sợ đối với “hai chân” của hòn Trống Mái. Bằng con mắt chuyên môn, vị chuyên gia về địa chất đã cảnh báo rằng, với tốc độ xâm thực và bào mòn của sóng, gió và tác động của con người như hiện nay, chẳng bao lâu nữa độ kết cấu “hai chân” của hòn Trống Mái sẽ bị cưa đứt. Tại thời điểm đó có người nói đùa rằng, hòn Trống Mái đang đứng trên hai “que tăm” bởi trông nó rất chênh vênh, chung chiêng nhất là khi những đợt sóng cao ập vào. Vị chuyên gia còn nói thêm, cũng đã nhiều lần lên tiếng cảnh báo qua mối quan hệ công việc nhưng nhìn chung chưa mấy ai tin, hoặc nhận được câu trả lời đại loại như “trông thế thôi, nó còn vững chãi lắm”.

Tiếp tục đọc “Hòn trống mái ở vịnh Hạ Long có nguy cơ bị gãy, đổ: Cần ngay giải pháp bảo tồn cấp thiết”

Thổi hồn nhạc cho dừa

tuoitre.vn

“Đời ông cha tôi sống nhờ cây dừa, rồi được bóng dừa che chở qua mưa bom bão đạn, nên khi hòa bình lập lại tôi muốn biến những cây dừa trở thành nhạc cụ làm vui tươi cho đời”.

Nghệ nhân Sơn Bá say sưa với cây đàn "5 trong 1" bằng gỗ dừa độc đáo của mình - Ảnh: MẬU TRƯỜNG
Nghệ nhân Sơn Bá say sưa với cây đàn “5 trong 1” bằng gỗ dừa độc đáo của mình – Ảnh: MẬU TRƯỜNG

Nghệ nhân Võ Văn Bá, 81 tuổi, tâm sự thêm người ta hay gọi ông là người thổi hồn cho dừa. Còn ông thì chỉ tự nhận mình đang ráng trả ơn dừa thôi.

Nợ cây dừa những ân tình

Sinh ra tại xứ dừa Bến Tre, tuổi thơ của ông Võ Văn Bá (tên thường gọi Sơn Bá) gắn liền với hình ảnh cây dừa quật cường trong mưa bom bão đạn và những giai điệu của các nhạc cụ cổ truyền như đờn cò, đờn tranh thấm sâu vào lòng người quê hương.

Năm 12 tuổi, cậu bé Sơn Bá ngày nào cũng theo các anh, các chú trong đoàn văn công giải phóng tỉnh và mê mẩn với tiếng đờn cò, đờn tranh. Cứ mỗi lần tiếng nhạc cụ truyền thống nào cất lên, Sơn Bá không rời mắt được khỏi những ngón tay của các nhạc công đang lướt trên phím đờn.

Tiếp tục đọc “Thổi hồn nhạc cho dừa”

Sau 50 Năm Ðọc Lại Quốc Văn Giáo Khoa Thư

cadaotucngu.com

Tác giả: Nam Sơn Trần Văn Chi – Published: 08 Tháng Ba 2019

Trích bài 3 – Lớp Dự bị – Đi học để làm gì

“Bác hỏi tôi đi học để làm gì. Tôi xin nói bác nghe. Tôi đi học để biết đọc những thư từ người ta gởi cho tôi và viết những thư từ tôi gởi cho người ta. Tôi đi học để biết đọc sách, đọc nhật báo, thấy điều gì hay thì bắt chước. Tôi đi học để biết tính toán, biết mọi sự vật và biết phép vệ sinh mà giữ gìn thân thể cho khỏe mạnh.

Nhưng tôi đi học cốt nhất là biết luân lý, để hiểu cách ăn ở thành người con hiếu thảo và người dân lương thiện.

Bài 1: Thân phận lạc loài

Những ai, trong chúng ta, ở độ tuổi 60 trở về trước, hẳn còn nhớ bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư ( QVGKT); Có thể đã từng đọc qua hoặc đã nghe đâu đó kể, hoặc đọc qua một vài đoạn, vài bài trong đó. Ðã nửa thế kỷ qua đủ để chúng ta quên nó. Và đủ để chúng ta nhớ nó; nhưng dù thế nào nay đọc lại cũng gây cho chúng ta ít nhiều hoài niệm về thời thơ ấu. Thời mà ngày hai buổi cấp sách đến trường, thời ăn chưa no, lo chưa tới của tuổi học trò.

Trong buổi sơ khai của chữ quốc ngữ (không phải chữ Hán, chữ Tây), bộ QVGKT là bộ sách giáo khoa, do nhà nước Pháp, mà trực tiếp là Nha Học Chánh Ðông Pháp, giao cho quí ông Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Ðặng Ðình Phúc và Ðỗ Thận cùng biên soạn. Bộ QVGKT gồm có 3 quyển:

– Quyển dành cho lớp Ðồng Ấu ( Cours Enfantin) là quyển dạy về luân lý (Morale) qua các bài tập đọc và tập viết.

– Quyển dành cho lớp Dự Bị ( Cours Préparatoire)

– Và quyển dành cho lớp Sơ Ðẳng ( Cours Elementaire).

Hai quyển Dự Bị và Sơ Ðẳng gồm các bài tập đọc (lecture), chứa đựng nội dung bao gồm: Sử ký, Ðịa Dư, Cách trí, Vạn vật, Vệ Sinh, Ðạo Ðức, Gia Ðình…

Chưa có dịp tìm một cách chính xác xem coi bộ QVGKT xuất bản đầu tiên năm nào, nhưng theo bản mà chúng tôi đọc, xuất bản năm 1939 thì đã in lần thứ mười ba. Như vậy án chừng sách xuất bản đầu tiên vào những năm đầu thế kỷ 20.

Tiếp tục đọc “Sau 50 Năm Ðọc Lại Quốc Văn Giáo Khoa Thư”

Trước khi gọi nhau lên Tây Bắc, hãy hiểu những người điêu khắc núi…

NGUYỄN THU QUỲNH – 30/09/2020 02:09 GMT+7

TTCT – Cái bụng anh thương em nhiều như lá rừng, em không có lòng thì thôi, có lòng thì về ta ở với nhau một đêm. Em không có lòng thì thôi, có lòng thì về, ta ở với nhau một ngày”.

Những thửa ruộng bậc thang ở Hoàng Su Phì (Hà Giang). Ảnh: Huy Thọ  

Sau những ngày tù cẳng, chán phố thị bêtông bít bùng, người miền xuôi thèm ít không khí thanh sạch và cảnh trí mới mẻ. Nhưng đi đâu? Ngắm mãi những cánh đồng, bờ biển miên man phẳng lặng cũng nhạt. Thế là, người người gọi nhau đi săn những đường nét thật mới mẻ của núi của đồi, với những đèo gấp khúc giăng mây phủ, đột ngột lên cao rồi bất ngờ hẫng xuống, mở ra hết cổng trời này đến cổng trời khác.

Tháng Chín, tháng Mười, người ta lại rủ nhau khám phá những bức tranh miền núi đượm nắng rót vàng như mật ong, những thửa ruộng bậc thang óng ả, uốn lượn mải miết mà dễ chẳng có khung hình nào đóng vừa.

Tiếp tục đọc “Trước khi gọi nhau lên Tây Bắc, hãy hiểu những người điêu khắc núi…”

“Chàng hiệp sỹ núi rừng” Hoàng Hoa Trung: Dấn thân vì điều tốt đẹp cho trẻ em bản xa

Báo đầu tưThanh Hương – 29/01/2023 08:08

Không có khó khăn nào làm khó hành trình thiện nguyện được xác định là trọn đời của “chàng hiệp sỹ núi rừng” Hoàng Hoa Trung.

Những “bữa cơm kẹp con chữ”

Cuối tháng 11/2022, sáng kiến “Hệ sinh thái nuôi em” của Hoàng Hoa Trung đã được trao giải A Cuộc thi Sáng kiến vì cộng đồng. Lời nhận xét “là một trong những chương trình thiện nguyện hướng tới trẻ em vùng cao, vùng sâu, vùng xa có phương thức hoạt động giàu tính sáng tạo, tính lan tỏa cao, minh bạch và đã triển khai trong thời gian dài, mang lại hiệu quả quan trọng” khiến Trung thêm phấn trấn.

Ở tuổi 32, Hoàng Hoa Trung vẫn tràn đầy nhiệt huyết như khi 17 tuổi – lúc bắt đầu bước vào hoạt động thiện nguyện, khi lần đầu tận mắt nhìn thấy những lớp học cắm bản được dựng tạm bợ bằng tranh, tre, nứa, lá; thấy nhiều em học sinh không thể đến trường; thấy hình ảnh các cô giáo mỗi sáng đi mấy cây số đường rừng gọi từng em đi học…

Tiếp tục đọc ““Chàng hiệp sỹ núi rừng” Hoàng Hoa Trung: Dấn thân vì điều tốt đẹp cho trẻ em bản xa”

Behind the Scenes, in the Forefront: Vietnamese Women in War and Peace

asiannetworkexchange.org

Lady Borton (The Gioi (World) Publishers)  Issue Volume 25 • Issue 1 • 2018 • Volume 25

This essay explores contributions to Vietnamese history by Việt Nam’s first historical generals (who were women) as well as by women from the Vietnamese Communist Party’s early years through the French-American War (1945–1954) and the American War (1954‒1975). It discusses how women used Confucian subservience, gender-determined dress, and traditional roles to supply local soldiers, gather intelligence, and resist the French and American armies. I provide information, documents, and photographs gathered by completing annotated book translations and by engaging in conversations and interviews conducted in Vietnamese over the course of nearly fifty years, including accounts from both famous and ordinary Vietnamese women. Their stories are unique yet representative of the experiences of many wartime participants.

Vietnamese Women in War and Peace

When we think about the French-American War (1945‒1954) and the American War in Việt Nam (which Americans often call the Vietnam War, 1954‒1975), we should address a seldom-spoken truth: Since the Vietnamese fought a people’s war (toàn dân—all the people), demographics suggest that half of those fighting against the American-allied front were women. The story of these women begins in the first century C.E. with another seldom-spoken truth: The first Vietnamese historical (as opposed to legendary) personages were women.

Rooted in Ancient Matriarchy

From time immemorial, Việt Nam was a matriarchy with a well-established religion of mother goddesses, whom many Vietnamese still worship today (See Illus. #1Hữu Ngọc 2016, 2017, 76–79). Matriarchy spawned Việt Nam’s first historical generals, the Trưng sisters— Trưng Trắc and Trưng Nhị (both ?–43 C.E.)—from an outlying district of modern-day Hà Nội. The Hán Chinese had occupied Việt Nam since 111 B.C.E. In 40 C.E., the sisters led a rebellion to avenge the death of Trưng Trắc’s husband, whom the Vietnamese annals say Chinese pro-consul Su Ting had assassinated. The sisters, their mother, and their women generals (whose names are known, affirming the sisters’ presence as historical characters) liberated Việt Nam from the Chinese. Before doing so, Trưng Trắc began Việt Nam’s tradition of generals writing poetry to galvanize their troops. Her “Oath at Hát River” in six-eight rhythm—a six-word line followed by an eight-word line—emphasizes the legendary Vietnamese Hùng Dynasty, which began in about 2870 B.C.E.:First pledge: Wash away the enemy Second pledge: Rebuild the Hùng Family’s ancient karma Third: Avenge injustices against my husband Fourth pledge: Execute this oath beginning to end (Borton 2007, 1).

Illus. #1

Illus. #1

A Vietnamese mother goddess in a drawing collected by the French soldier Henri Oger, who published more than 4,000 drawings of traditional Vietnamese life depicted by Vietnamese artists. Scholar Olivier Tessier of École française d’Extrême-Orient (ÉFEO) oversaw the Oger Collection’s centennial publication in 2009. Source: Olivier Tessier, ÉFEO.

Tiếp tục đọc “Behind the Scenes, in the Forefront: Vietnamese Women in War and Peace”

Critical Minerals in World War 2

Arizona.edu

How Minerals Made Civilization, the UA Lowell Institute for Mineral Resources’ YouTube video series on the role of mineral resources in history, is launching a trilogy about how mineral resources influenced the war.  Part 1, posted today, covers mineral resources during the interwar buildup: how mineral resources figured in national (and transnational) politics in the 1930s, how resource-poor nations sought to build up their supplies, and how the struggle for resources eventually culminated in the outbreak of the war. From the video, here are a few fun facts you may not have known:

  •  Coins for combat: During the early to mid-1930s, both Germany and Japan reissued old silver coinages in nickel so they would have a nickel supply for gun steels when the war broke out.
  •  Coal, meet hydrogen: Coal-to-oil conversion was invented too late to change the outcome of World War 1, but it was about to play a major role in supplying Germany in the next war.
  •  Why we use molybdenum in steels: The Nazi-Soviet Pact of 1939 redirected Soviet manganese exports from the USA to Germany, so American metallurgists developed improved molybdenum-alloy steels as a substitute using molybdenum from Arizona and Colorado.

Tiếp tục đọc “Critical Minerals in World War 2”