Thổi hồn nhạc cho dừa

tuoitre.vn

“Đời ông cha tôi sống nhờ cây dừa, rồi được bóng dừa che chở qua mưa bom bão đạn, nên khi hòa bình lập lại tôi muốn biến những cây dừa trở thành nhạc cụ làm vui tươi cho đời”.

Nghệ nhân Sơn Bá say sưa với cây đàn "5 trong 1" bằng gỗ dừa độc đáo của mình - Ảnh: MẬU TRƯỜNG
Nghệ nhân Sơn Bá say sưa với cây đàn “5 trong 1” bằng gỗ dừa độc đáo của mình – Ảnh: MẬU TRƯỜNG

Nghệ nhân Võ Văn Bá, 81 tuổi, tâm sự thêm người ta hay gọi ông là người thổi hồn cho dừa. Còn ông thì chỉ tự nhận mình đang ráng trả ơn dừa thôi.

Nợ cây dừa những ân tình

Sinh ra tại xứ dừa Bến Tre, tuổi thơ của ông Võ Văn Bá (tên thường gọi Sơn Bá) gắn liền với hình ảnh cây dừa quật cường trong mưa bom bão đạn và những giai điệu của các nhạc cụ cổ truyền như đờn cò, đờn tranh thấm sâu vào lòng người quê hương.

Năm 12 tuổi, cậu bé Sơn Bá ngày nào cũng theo các anh, các chú trong đoàn văn công giải phóng tỉnh và mê mẩn với tiếng đờn cò, đờn tranh. Cứ mỗi lần tiếng nhạc cụ truyền thống nào cất lên, Sơn Bá không rời mắt được khỏi những ngón tay của các nhạc công đang lướt trên phím đờn.

Tiếp tục đọc “Thổi hồn nhạc cho dừa”

Sau 50 Năm Ðọc Lại Quốc Văn Giáo Khoa Thư

cadaotucngu.com

Tác giả: Nam Sơn Trần Văn Chi – Published: 08 Tháng Ba 2019

Trích bài 3 – Lớp Dự bị – Đi học để làm gì

“Bác hỏi tôi đi học để làm gì. Tôi xin nói bác nghe. Tôi đi học để biết đọc những thư từ người ta gởi cho tôi và viết những thư từ tôi gởi cho người ta. Tôi đi học để biết đọc sách, đọc nhật báo, thấy điều gì hay thì bắt chước. Tôi đi học để biết tính toán, biết mọi sự vật và biết phép vệ sinh mà giữ gìn thân thể cho khỏe mạnh.

Nhưng tôi đi học cốt nhất là biết luân lý, để hiểu cách ăn ở thành người con hiếu thảo và người dân lương thiện.

Bài 1: Thân phận lạc loài

Những ai, trong chúng ta, ở độ tuổi 60 trở về trước, hẳn còn nhớ bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư ( QVGKT); Có thể đã từng đọc qua hoặc đã nghe đâu đó kể, hoặc đọc qua một vài đoạn, vài bài trong đó. Ðã nửa thế kỷ qua đủ để chúng ta quên nó. Và đủ để chúng ta nhớ nó; nhưng dù thế nào nay đọc lại cũng gây cho chúng ta ít nhiều hoài niệm về thời thơ ấu. Thời mà ngày hai buổi cấp sách đến trường, thời ăn chưa no, lo chưa tới của tuổi học trò.

Trong buổi sơ khai của chữ quốc ngữ (không phải chữ Hán, chữ Tây), bộ QVGKT là bộ sách giáo khoa, do nhà nước Pháp, mà trực tiếp là Nha Học Chánh Ðông Pháp, giao cho quí ông Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Ðặng Ðình Phúc và Ðỗ Thận cùng biên soạn. Bộ QVGKT gồm có 3 quyển:

– Quyển dành cho lớp Ðồng Ấu ( Cours Enfantin) là quyển dạy về luân lý (Morale) qua các bài tập đọc và tập viết.

– Quyển dành cho lớp Dự Bị ( Cours Préparatoire)

– Và quyển dành cho lớp Sơ Ðẳng ( Cours Elementaire).

Hai quyển Dự Bị và Sơ Ðẳng gồm các bài tập đọc (lecture), chứa đựng nội dung bao gồm: Sử ký, Ðịa Dư, Cách trí, Vạn vật, Vệ Sinh, Ðạo Ðức, Gia Ðình…

Chưa có dịp tìm một cách chính xác xem coi bộ QVGKT xuất bản đầu tiên năm nào, nhưng theo bản mà chúng tôi đọc, xuất bản năm 1939 thì đã in lần thứ mười ba. Như vậy án chừng sách xuất bản đầu tiên vào những năm đầu thế kỷ 20.

Tiếp tục đọc “Sau 50 Năm Ðọc Lại Quốc Văn Giáo Khoa Thư”

Trước khi gọi nhau lên Tây Bắc, hãy hiểu những người điêu khắc núi…

NGUYỄN THU QUỲNH – 30/09/2020 02:09 GMT+7

TTCT – Cái bụng anh thương em nhiều như lá rừng, em không có lòng thì thôi, có lòng thì về ta ở với nhau một đêm. Em không có lòng thì thôi, có lòng thì về, ta ở với nhau một ngày”.

Những thửa ruộng bậc thang ở Hoàng Su Phì (Hà Giang). Ảnh: Huy Thọ  

Sau những ngày tù cẳng, chán phố thị bêtông bít bùng, người miền xuôi thèm ít không khí thanh sạch và cảnh trí mới mẻ. Nhưng đi đâu? Ngắm mãi những cánh đồng, bờ biển miên man phẳng lặng cũng nhạt. Thế là, người người gọi nhau đi săn những đường nét thật mới mẻ của núi của đồi, với những đèo gấp khúc giăng mây phủ, đột ngột lên cao rồi bất ngờ hẫng xuống, mở ra hết cổng trời này đến cổng trời khác.

Tháng Chín, tháng Mười, người ta lại rủ nhau khám phá những bức tranh miền núi đượm nắng rót vàng như mật ong, những thửa ruộng bậc thang óng ả, uốn lượn mải miết mà dễ chẳng có khung hình nào đóng vừa.

Tiếp tục đọc “Trước khi gọi nhau lên Tây Bắc, hãy hiểu những người điêu khắc núi…”

“Chàng hiệp sỹ núi rừng” Hoàng Hoa Trung: Dấn thân vì điều tốt đẹp cho trẻ em bản xa

Báo đầu tưThanh Hương – 29/01/2023 08:08

Không có khó khăn nào làm khó hành trình thiện nguyện được xác định là trọn đời của “chàng hiệp sỹ núi rừng” Hoàng Hoa Trung.

Những “bữa cơm kẹp con chữ”

Cuối tháng 11/2022, sáng kiến “Hệ sinh thái nuôi em” của Hoàng Hoa Trung đã được trao giải A Cuộc thi Sáng kiến vì cộng đồng. Lời nhận xét “là một trong những chương trình thiện nguyện hướng tới trẻ em vùng cao, vùng sâu, vùng xa có phương thức hoạt động giàu tính sáng tạo, tính lan tỏa cao, minh bạch và đã triển khai trong thời gian dài, mang lại hiệu quả quan trọng” khiến Trung thêm phấn trấn.

Ở tuổi 32, Hoàng Hoa Trung vẫn tràn đầy nhiệt huyết như khi 17 tuổi – lúc bắt đầu bước vào hoạt động thiện nguyện, khi lần đầu tận mắt nhìn thấy những lớp học cắm bản được dựng tạm bợ bằng tranh, tre, nứa, lá; thấy nhiều em học sinh không thể đến trường; thấy hình ảnh các cô giáo mỗi sáng đi mấy cây số đường rừng gọi từng em đi học…

Tiếp tục đọc ““Chàng hiệp sỹ núi rừng” Hoàng Hoa Trung: Dấn thân vì điều tốt đẹp cho trẻ em bản xa”

Behind the Scenes, in the Forefront: Vietnamese Women in War and Peace

asiannetworkexchange.org

Lady Borton (The Gioi (World) Publishers)  Issue Volume 25 • Issue 1 • 2018 • Volume 25

This essay explores contributions to Vietnamese history by Việt Nam’s first historical generals (who were women) as well as by women from the Vietnamese Communist Party’s early years through the French-American War (1945–1954) and the American War (1954‒1975). It discusses how women used Confucian subservience, gender-determined dress, and traditional roles to supply local soldiers, gather intelligence, and resist the French and American armies. I provide information, documents, and photographs gathered by completing annotated book translations and by engaging in conversations and interviews conducted in Vietnamese over the course of nearly fifty years, including accounts from both famous and ordinary Vietnamese women. Their stories are unique yet representative of the experiences of many wartime participants.

Vietnamese Women in War and Peace

When we think about the French-American War (1945‒1954) and the American War in Việt Nam (which Americans often call the Vietnam War, 1954‒1975), we should address a seldom-spoken truth: Since the Vietnamese fought a people’s war (toàn dân—all the people), demographics suggest that half of those fighting against the American-allied front were women. The story of these women begins in the first century C.E. with another seldom-spoken truth: The first Vietnamese historical (as opposed to legendary) personages were women.

Rooted in Ancient Matriarchy

From time immemorial, Việt Nam was a matriarchy with a well-established religion of mother goddesses, whom many Vietnamese still worship today (See Illus. #1Hữu Ngọc 2016, 2017, 76–79). Matriarchy spawned Việt Nam’s first historical generals, the Trưng sisters— Trưng Trắc and Trưng Nhị (both ?–43 C.E.)—from an outlying district of modern-day Hà Nội. The Hán Chinese had occupied Việt Nam since 111 B.C.E. In 40 C.E., the sisters led a rebellion to avenge the death of Trưng Trắc’s husband, whom the Vietnamese annals say Chinese pro-consul Su Ting had assassinated. The sisters, their mother, and their women generals (whose names are known, affirming the sisters’ presence as historical characters) liberated Việt Nam from the Chinese. Before doing so, Trưng Trắc began Việt Nam’s tradition of generals writing poetry to galvanize their troops. Her “Oath at Hát River” in six-eight rhythm—a six-word line followed by an eight-word line—emphasizes the legendary Vietnamese Hùng Dynasty, which began in about 2870 B.C.E.:First pledge: Wash away the enemy Second pledge: Rebuild the Hùng Family’s ancient karma Third: Avenge injustices against my husband Fourth pledge: Execute this oath beginning to end (Borton 2007, 1).

Illus. #1

Illus. #1

A Vietnamese mother goddess in a drawing collected by the French soldier Henri Oger, who published more than 4,000 drawings of traditional Vietnamese life depicted by Vietnamese artists. Scholar Olivier Tessier of École française d’Extrême-Orient (ÉFEO) oversaw the Oger Collection’s centennial publication in 2009. Source: Olivier Tessier, ÉFEO.

Tiếp tục đọc “Behind the Scenes, in the Forefront: Vietnamese Women in War and Peace”

Critical Minerals in World War 2

Arizona.edu

How Minerals Made Civilization, the UA Lowell Institute for Mineral Resources’ YouTube video series on the role of mineral resources in history, is launching a trilogy about how mineral resources influenced the war.  Part 1, posted today, covers mineral resources during the interwar buildup: how mineral resources figured in national (and transnational) politics in the 1930s, how resource-poor nations sought to build up their supplies, and how the struggle for resources eventually culminated in the outbreak of the war. From the video, here are a few fun facts you may not have known:

  •  Coins for combat: During the early to mid-1930s, both Germany and Japan reissued old silver coinages in nickel so they would have a nickel supply for gun steels when the war broke out.
  •  Coal, meet hydrogen: Coal-to-oil conversion was invented too late to change the outcome of World War 1, but it was about to play a major role in supplying Germany in the next war.
  •  Why we use molybdenum in steels: The Nazi-Soviet Pact of 1939 redirected Soviet manganese exports from the USA to Germany, so American metallurgists developed improved molybdenum-alloy steels as a substitute using molybdenum from Arizona and Colorado.

Tiếp tục đọc “Critical Minerals in World War 2”

Buddha statues get bigger on mainland China in bid to lure tourists

scmp.com Published: 5:00pm, 4 Feb, 2014

Giant statues of sage spring up all over mainland as developers and officials bid to lure tourists

Tourists visit the popular Lingshan Grand Buddha at Wuxi, Jiangsu province, which stands 88 metres high. Photo: Shutterstock

Tourists visit the popular Lingshan Grand Buddha at Wuxi, Jiangsu province, which stands 88 metres high. Photo: Shutterstock

Local officials on the mainland are drawing inspiration from Buddha, but perhaps not in a way he might have intended.

Tourism bureaus and developers are racing to build ever-higher statues of Buddha, in an attempt to copy the success of the Lingshan Grand Buddha in Wuxi, Jiangsu province.

The 88-metre-high attraction drew about 3.8 million visitors last year, generating more than 1.2 billion yuan (HK$1.5 billion). Not a bad return on 725 tonnes of bronze sheet.

Hong Kong’s Tian Tan Buddha, at a modest 34 metres, would barely rise to the knees of the current behemoths such as the 208-metre-high Spring Temple Buddha in Lushan county in Henan province.

At least five others taller than Tian Tan are spread across the mainland and the list is set to grow, including a planned 88-metre-high statue of the bodhisattva Guanyin in Suzhou , Jiangsu province, a 99-metre depiction of the bodhisattva Ksitigarbha in Anhui province, and a 48-metre statue of Amitabha Buddha at Lu Mountain in Jiangxi province.

According to the New Weekly, the Aerosun Corporation, which built the Tian Tan Buddha on Lantau, is developing more than 10 such projects across the country this year.

Tiếp tục đọc “Buddha statues get bigger on mainland China in bid to lure tourists”

Tự Lực Văn Đoàn, hay sống bằng ngòi bút trong kỳ loạn lạc – The Life, Death and Legacy of 7 Pillars of Vietnam’s Quốc Ngữ Literary Wealth

Read this article in English

Saigoneer.com Thứ sáu, 27 Tháng 5 2022. Viết bởi Linh Phạm. Ảnh bìa: Phan Nhi.

Trích or Triết là series về những danh nhân vang bóng một thời trong giới nghệ thuật và văn đàn Việt Nam. Các tác phẩm của họ đã để để lại những bài học mang giá trị xuyên thế kỷ về nhiều vấn đề xã hội hãy còn là nỗi nhức nhối ngày nay.Hồi mới bập bẹ vào nghề viết, tôi tự thấy vốn liếng quốc ngữ của mình còn nhiều khiếm khuyết. Vốn từ tiếng Anh tôi chủ yếu đến từ sách vở, nên để tự trau dồi tiếng Việt, tôi nghĩ cứ phải bắt đầu từ một cuốn sách bất kỳ. Mắt tôi dừng ở quyển Hà Nội Băm Sáu Phố Phường của Thạch Lam. Cuốn này đã ở trên giá sách nhà tôi lâu lắm rồi, hôm nay mới là lần đầu tiên tôi được lướt trên những câu chữ trong đấy.

Còn chưa vào đến câu nào của Thạch Lam, mới đọc lời tựa sách của Khái Hưng thôi, mà nước mắt tôi đã lã chã rơi. Một phần vì giọng văn hay quá, lối viết gãy gọn, gần gũi, mà lại rất đỗi thâm thúy. Phần khác tôi bị xúc động vì họ, những người tôi coi là đồng nghiệp, đã vạch ra một đường hướng văn chương mà tôi có thể theo đuổi suốt cuộc đời.

Logo của nhóm Tự Lực Văn Đoàn.

Thạch Lam và Khái Hưng thuộc Tự Lực Văn Đoàn, một nhóm các cây viết từ thời Pháp thuộc, được thành lập với mục đích “làm giầu thêm văn sản trong nước.” Từ chỗ mê lời văn của các anh, tôi bị cuốn vào câu chuyện của Tự Lực. Một câu chuyện không chỉ về việc viết văn, làm báo, mà còn về vận mệnh của cả một đất nước. Một câu chuyện mà những bi thương trong đó vẫn còn văng vẳng tới tận bây giờ.

“Câu chuyện về Tự Lực Văn Đoàn là cả một cái mâu thuẫn lớn của xã hội Việt Nam,” bác Nguyễn Đình Huynh nói. Nghiên cứu về nhóm Tự Lực đã hơn nửa thế kỷ, bác nhận thấy một kết nối khó tả với ba người đồng hương trong nhóm Tự Lực — ba anh em ruột — Thạch Lam, Hoàng Đạo, và Nhất Linh.

Tiếp tục đọc “Tự Lực Văn Đoàn, hay sống bằng ngòi bút trong kỳ loạn lạc – The Life, Death and Legacy of 7 Pillars of Vietnam’s Quốc Ngữ Literary Wealth”

Ngày mới Chen – Chự – Hồ

 Chủ nhật, 01/01/2023 | 14:25 GMT+7

baophutho.vnChen- Chự – Hồ là ba bản người Dao nằm cheo leo cuối dãy núi Tu Tinh, nhìn xuống dòng suối Cái cuộn chảy và những dãy núi sừng sững như cột chống trời. Đây là ba bản cao và xa nhất, cách trung tâm xã Yên Sơn (huyện Thanh Sơn) gần 20km. Từng là địa bàn “sơn cùng, cốc thẳm”, lọt thỏm giữa bạt ngàn rừng, biệt lập với các thôn bản khác bởi giao thông cách trở nhưng nhờ Chương trình mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế- xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là từ khi triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, Chen – Chự – Hồ đã ngày một đổi thay.

Đường từ bản Dao về trung tâm xã được mở rộng và trải nhựa, thuận lợi cho việc đi lại, giao thương, phát triển kinh tế – xã hội của người dân. Tiếp tục đọc “Ngày mới Chen – Chự – Hồ”

Traditional forest ritual protects Mother Nature

VNN – May 03, 2023 – 08:35

RITUAL: Under shaggy vines, Sui Dơih (centre) – the celebrant – prepares offerings including a roasted pig, grilled meat, wine, chicken liver and a piece of raw pork.

For ethnic minorities in the Tây Nguyên (Central Highlands) and mountainous regions across the country, the forest does not simply refer to materials and resources, but also a broad spiritual culture.

Forest worship practices have existed in the consciousness and life of ethnic minorities for a long time, featured in local ceremonies and festivals based on concepts of the universe and animism and represented by sacred forest gods.

Among them is the religious practice of cúng rừng (forest god worship) of the Jrai community in the Central Highlands province of Gia Lai. The event is a major tradition showing attachment to Mother Nature. Tiếp tục đọc “Traditional forest ritual protects Mother Nature”

Nụ cười mùa Roya Haji

25/06/2023 – 08:42

AGO – Bà con nhiều làng Chăm tỉnh An Giang sống dọc theo dòng Hậu Giang hiền hòa, cũng mang tính cách hiền hòa, chất phác như phù sa. Một mùa Tết chịu tuổi (Roya Haji) sắp về, phủ đầy ước vọng bình yên, hạnh phúc, may mắn ở từng mái nhà, từng thánh đường, trong từng nụ cười…

Trong nắng chiều, Thánh đường Masjid Al Ehsan (xã Đa Phước, huyện An Phú) bàng bạc một màu cổ tích, như trong chuyện “Nghìn lẻ một đêm”.

Tiếp tục đọc “Nụ cười mùa Roya Haji”

Một ngày của Nâu

04/06/2023 – 07:51

AG –   Nâu là tên tôi đặt cô ngựa 10 tuổi của ông Chau Da, ở ấp Vĩnh Lập, xã Vĩnh Trung (TX. Tịnh Biên, tỉnh An Giang). Hôm tôi về xứ núi, Nâu đã có một ngày làm việc rất vất vả, trong cái nắng hầm hập hè biên giới, thi thoảng lại chuyển sang lâm râm những giọt mưa đầu mùa…

Sáng sớm, ông Chau Da đưa Nâu ra khỏi nhà, bắt đầu hành trình mưu sinh quen thuộc. Tiếng vó ngựa lộc cộc lạc lõng giữa dòng xe cộ hiện đại. Tuy nhiên, với người dân xã Vĩnh Trung, hình ảnh này đã quen thuộc vô cùng, bởi vì đây là nơi duy nhất trong tỉnh An Giang có tập tục nuôi ngựa kéo xe, phần lớn do đồng bào dân tộc thiểu số Khmer duy trì mấy chục năm nay.

Tiếp tục đọc “Một ngày của Nâu”

Nậm Củm bây giờ có khác xưa?

BDT – Sỹ Hào – 15:30, 19/03/2021

Sau 7 năm, chúng tôi mới có dịp trở lại Nậm Củm, một trong 5 bản có đồng bào dân tộc Mảng sinh sống tập trung của huyện Mường Tè (Lai Châu), nơi đã từng có việc: “nhà khá nhất bản chỉ có cây đu đủ”. Diện mạo Nậm Củm bây giờ đã mang sắc màu nông thôn mới, nhưng đời sống người dân cơ bản vẫn nghèo, nhiều tệ nạn vẫn còn âm ỉ …

>> Bài liên quan: Ở nơi nhà có cây đu đủ được coi là giàu nhất bản

Bản Nậm Củm nép mình bên dòng suối Nậm Sì Lường (Ảnh chụp ngày 1/3/2021)

Tiếp tục đọc “Nậm Củm bây giờ có khác xưa?”

Political Apologies Across Cultures

politicalapologies.com

In the past decades, there has been a considerable rise in the number of apologies offered by states for injustices and human rights violations. But are such gestures a viable reconciliatory tool and do they have a universal potential to redress injustice or restore harmony? Or do people across cultures have different notions about what political apologies mean, what purpose they serve, or how they can or should be expressed?

In this five year project funded by the European Research Council, we bring scholarship on transitional justice together with cross-cultural psychology and anthropology to address these questions and to investigate how political apologies are viewed across cultures. The overall objective is to understand whether political apologies can be a universal reconciliation tool, or whether a tailored approach based on cultural variation is more appropriate.

The Value and Meaning of Political Apologies across Cultures

A central idea behind political apologies is that collectivities such as states can and should take responsibility or express remorse for past wrongdoings, and that this will help restore justice or promote harmony. But are such notions regarding collective moral responsibility and collective guilt shared across cultures? And is there a similar understanding about the function and meaning of political apologies across cultures? The aim of this subproject is to analyze whether key assumptions regarding political apologies hold across cultures, or whether this varies as a function of cross-cultural differences in key values (collectivism and individualism) and norms (face and honor). For this, we rely upon an interdisciplinary and mixed-methods approach using in-depth interviews, vignette studies, and surveys. Data have been collected using community samples (incl. people aged 18 and above from both urban and rural regions with mixed educational backgrounds) across 33 countries.

PRELIMINARY SURVEY

FIELD SURVEY

IN-DEPTH INTERVIEWS

VIGNETTE STUDY

LARGE-SCALE SURVEY

The Expression and Reception of Political Apologies across Cultures

Over the past years, there has been considerable debate about the role of political apologies in reconciliation processes. Although some have heralded such gestures as a meaningful step, others have described them as political rituals that may be appropriate in some (cultural) contexts but not in others, as people may have different notions about what they mean, what purpose they serve, or how they should be expressed. What has been lacking, however, is a systematic analysis of how political apologies are expressed and received across the world. In this subproject, we aim to fill this gap by mapping and comparing the political apologies that have been made across the world, and by analyzing whether there are universals in how they are valued, expressed, and interpreted or whether this varies as a function of cross-cultural differences in key values (collectivism and individualism) and norms (face and honor). For this, we rely on a broad range of methods, varying from content analyses and in-depth interviews to (experimental) surveys. Data have been collected using community samples (incl. people aged 18 and above from both urban and rural regions with mixed educational backgrounds) across 32 countries. The Political Apologies Database is available on this website under the Database page. 


THE POLITICAL APOLOGIES DATABASE

CASE STUDIES: EL SALVADOR, REPUBLIC OF KOREA, AND THE UNITED KINGDOM

LARGE-SCALE MULTI-COUNTRY EXPERIMENTAL SURVEY

The Expression and Reception