What is more impressive is that some EM groups with a population of fewer than 1,000 have had a say in the legislative body.
EM deputies from Cao Bằng Province in their meeting with the president in 2022. — VNA/VNS Photo Thống Nhất
HÀ NỘI — Ethnic minorities’ (EM) representation in the National Assembly (NA) is a fundamental tenet of Việt Nam’s political doctrine; the country has spared no effort in ensuring they are presented from the top.
TTCT – Ở nơi kỹ thuật cắt may hiện đại và kỹ thuật nhuộm chàm cổ xưa gặp nhau.
Tháng 11 này, những người đến xem triển lãm Khói xanh của ba cô gái Sín Chải (Sa Pa) với các nhà thiết kế, học viên tại Trường London College Design & Fashion (LCDF) đã được chứng kiến một sự kết hợp duyên dáng giữa hiện đại và truyền thống trên những sản phẩm có hiệu ứng thị giác và tính ứng dụng cao.
Thế hệ trẻ Mông vùng Tây Bắc đất nước đã tiếp nhận kỹ thuật hiện đại và các nhà thiết kế trẻ đã khám phá những tinh tế tiềm ẩn trong chất liệu vải lanh bản địa, trong kỹ thuật nhuộm chàm, thêu, xe sợi, vẽ sáp ong…
Đằng sau những sản phẩm đó, điều gì đã và đang diễn ra?
Nguyễn Thị Phương Mai và Nguyễn Bình Đức là những người thuộc thế hệ 8X tại Hà Nội, một người là kiến trúc sư, một người làm công nghệ và viết văn.
Nhiều năm trước, trong một lần leo Fansipan, vợ chồng họ gặp anh Vàng A Chư lúc đó đang làm trưởng đội porter dẫn đoàn leo Fansipan. Người thủ lĩnh porter ấy đã gây ấn tượng mạnh đến mức Mai – Đức tìm tới tận nhà Vàng A Chư tại bản Sín Chải, xã San Sả Hồ, Sa Pa.
The classes not only help Jrai ethnic people in the village learn to read and write, but also contribute to raising people’s awareness and responsibility in protecting the national borders.
Many JRai students have to bring their children to literacy classes. — VNA/VNS Photo
GIA LAI — Border soldiers in the Tây Nguyên (Central Highlands) province of Gia Lai are assuming the role of teachers to eliminate illiteracy among local ethnic people.
The residential area of Suối Khôn in the border commune of Ia Mơ, Chu Prông District has 561 residents of the Jrai ethnic minority group, with most of them being very poor.
Currently, there are 71 illiterate people, accounting for 10 per cent of the area’s population.
Ia Lốp Border Guard Station opened classes to teach people and the soldiers are their teachers.
The classes not only help Jrai ethnic people in the village learn to read and write, but also contribute to raising people’s awareness and responsibility in protecting the national borders.
To get to Suối Khôn Residential Area, it takes more than two hours to travel from the city of Pleiku to Ia Pier Commune, then through a dirt road of more than ten kilometres full of mud and slush.
Lieutenant Colonel Nguyễn Văn Thành, secretary of the station’s Party Committee, said that there were 71 Jrai ethnic people who were illiterate, of which 45 people wanted to learn.
The station’s leaders decided to open classes to teach the illiterate people.
Since earlier this year, Ia Lốp Border Guard Station has organised two four-month literacy classes for the Jrai ethnic minority with 25 students.
The teachers are soldiers including Lieutenant Colonel Vũ Văn Hoàng, who teaches math, and Captain Nguyễn Văn Luân, who teaches Vietnamese language.
The entire programme uses literacy learning materials compiled by the Ministry of Education and Training.
The classes, which take place three evenings per week, received the professional support of Hoàng Hoa Thám Primary School in neighbouring Ia Piơr Commune.
Captain Nguyễn Văn Luân said that the journey of mobilising people to come to class encountered many hardships.
“The weather conditions here are very harsh. People mainly work in agriculture and their lives are very difficult,” Luân said.
“Ethnic minorities often feel an inferiority complex and have low self-esteem so they are timid in communication,” Luân said.
“Therefore, we had to go to each household to mobilise and encourage them to boldly come to class,” the captain said.
Soldiers cum teachers of Ia Lốp Border Guard Station come directly to local residents’ houses to urge them to attend literacy classes. — VNA/VNS Photo
Getting people to come to school was difficult, and maintaining class size was even more difficult.
Lieutenant Colonel Vũ Văn Hoàng said that the classes started in the evening, but in the afternoon the teachers had to go to each house to remind people of the class.
Because the students’ ages ranged from 16 to 60, organising classes and teaching methods must be flexible, especially during the crop season. Students have to work hard during the day so many of them cannot attend classes in the evening, said Hoàng.
“So to maintain the classes, the border guard soldiers had to come to help people with farm work or take care of their children to help them feel secure and focus on their studies,” said Hoàng.
Change of life
Kpui H’Lép, 27, is one of the outstanding students. After only four months of studying, she was able to read and write fluently.
H’Lep happily said: “Before, I was illiterate, very self-conscious and shy. I was always oppressed when doing business and criticised when doing housework.”
“But now it is different. I learned how to read and calculate. I thanked the teachers for helping me and other people in the village to have a better life,” she said.
Another student, Rơ Lan H’Cúc, 26, residing in Sâm Village, Ia Piơr Commune, has a two-year-old daughter whom she has to carry to evening classes.
Rơ Lan H’Cúc often sits at the back of the class but is very diligent and serious.
“I regretted not being literate earlier. Now I have the opportunity to learn many things from teachers. The teachers not only taught us how to read and write but also gave us books, pens, babysitting and farming instructions,” Rơ Lan H’Cúc said.
“I am very grateful to the teachers,” she said.
Suối Khôn residential area was formed in 2003. Most of residents are the Jrai ethnic minority.
Since its formation until now, this residential area has not yet received basic investment in electricity, roads, and schools, and people haven’t fully benefited from social security policies.
The reason is because this land belongs to the administrative boundaries of Ia Mơ Commune but the population is managed by another commune, Ia Piơr Commune.
Hà Văn Tin, vice chairman of the People’s Committee of Ia Piơr Commune, Chu Prông District, said that the authorities of Ia Piơr and Ia Mơ communes and the people in the area hoped that the competent authorities would soon allow the establishment of Khôl Village under Ia Mơ Commune according to a project since April 2022.
This is a condition for Suối Khôn Residential Area to be better managed and develop in the future, Tin said. — VNS
Soldiers of the Ia Lốp Border Guard Station teach literary classes for JRai ethnic minority people. — VNA/VNS Photo
Nghiên cứu “Thanh thiếu niên dân tộc thiểu số và những rủi ro liên quan đến mua bán người trên mạng xã hội” được thực hiện bởi Viện iSEE, Blue Dragon với sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của SecDev vào đầu năm 2021 tại Điện Biên, Hà Giang (hiện là địa bàn hoạt động của Blue Dragon) và Lào Cai (chưa có hoạt động của Blue Dragon), với mục tiêu tìm hiểu về thực trạng sử dụng Mạng Xã Hội và các dịch vụ Internet của thanh thiếu niên Dân tộc Thiểu số cũng như những rủi ro họ gặp phải liên quan đến nạn mua bán người hiện nay, từ đó đưa ra khuyến nghị thiết thực cho các thông điệp và can thiệp truyền thông. Nghiên cứu này được thiết kế kết hợp giữa một điều tra định lượng với 624 học sinh và thanh thiểu niên DTTS tại Hà Giang và Điện Biên (bao gồm 40.9% dân tộc Mông, 39.6% dân tộc Thái, còn lại gồm các dân tộc Khơ Mú, Dao, Tày, Giáy, vv..), và một nghiên cứu định tính dựa trên 14 TLN và 34 PVS trực tiếp với thanh thiếu niên, học sinh, giáo viên tại ba địa bàn nghiên cứu và cán bộ chương trình của Blue Dragon.
Hơn 10 năm làm chương trình Dân tộc thiểu số của viện iSEE là 10 năm của học hỏi và bồi đắp thêm tri thức về phát triển. Những lý thuyết, những phương pháp tiếp cận chúng tôi viết trong tài liệu này là những kết quả của quá trình phản tư và học liên tục để lựa chọn chứ không phải là thứ được chọn ngay tại thời điểm khai sinh của chương trình năm 2008. Trong cả tiến trình ấy, điểm neo chúng tôi lại để chất vấn, phản tư, và học hỏi là những giá trị của iSEE – Tự do, Bình đẳng, Khoan dung – và tầm nhìn về vấn đề mà iSEE muốn thay đổi, là vẻ đẹp trong cách nghĩ, cách sống của các thành viên nhóm Tiên phong và cộng đồng của các anh chị tại địa phương.
Trên chặng đường hoạt động và xây dựng chương trình Dân tộc thiểu số, chúng tôi đi lên từ những nghiên cứu dưới góc tiếp cận nhân học, lấy trải nghiệm và hoạt động của cộng đồng các tộc người thiểu số làm trung tâm. Trong quá trình này, chúng tôi đã nhìn thấy chính mình trong những phê phán về tư duy phát triển của số đông. Chúng tôi dần tích lũy tri thức và thấu hiểu hơn những trở ngại mang tính hệ thống đối với các nhóm dân tộc thiểu số. Một trong những trở ngại lớn nhất là sự chấp nhận một cách thiếu phê phán trên diện rộng đối với tư duy tiến hoá luận, lối suy nghĩ cho rằng họ luôn mặc nhiên ở nấc thang phát triển thấp hơn so với người Kinh. Với niềm tin mạnh mẽ vào tính chủ thể và năng lực văn hoá của cộng đồng, và nhất là những thay đổi do chính cộng đồng tạo ra, trong hơn một thập kỷ qua, chúng tôi đã có cơ hội đồng hành và trải nghiệm hành trình Tự hào – Tự tin- Tự chủ với cộng đồng các dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam. Mục tiêu của chúng tôi là cùng với họ bồi đắp khát vọng tạo dựng một tương lai chung, nơi câu chuyện của cộng đồng các dân tộc thiểu số được chia sẻ, lắng nghe, thấu hiểu, và trở thành một nguồn cảm hứng cho suy tư về bình đẳng và phát triển. Hành trình này của chúng tôi đi qua rất nhiều thách thức, với nhiều hoài nghi từ bên ngoài cũng như sự phản tư từ chính những người xây dựng và tham gia. Đó cũng là tiến trình tất yếu để thử thách và củng cố niềm tin vào sức mạnh của cộng đồng, cũng chính là triết lý phát triển mà chúng tôi đã và đang theo đuổi.
Tài liệu này là một phần trong nỗ lực tái hiện và chia sẻ rộng rãi triết lý phát triển ấy. Với cấu trúc 4 phần có liên hệ chặt chẽ và phản ánh lẫn nhau, chúng tôi bắt đầu với phần Đặt vấn đề lý giải những băn khoăn và lựa chọn vào thời điểm bắt đầu, tiếp đến giới thiệu các Lý thuyết nền tảng mà chúng tôi đã may mắn được tiếp cận và học hỏi. Phần 3 minh họa các Chiến lược và hành động mà Viện iSEE đã vận dụng các lý thuyết trong triển khai thực tế cùng với cộng đồng. Cuối cùng, phần 4 tổng kết những Bài học kinh nghiệm chúng tôi tự đúc kết sau chặng đường hơn một thập kỷ.
Chúng tôi vô cùng biết ơn các nhà nghiên cứu TS. Phạm Quỳnh Phương, TS. Hoàng Cầm, TS. Nguyễn Thu Giang đã truyền cảm hứng và giúp chúng tôi tiếp cận với các lý thuyết từ những ngày đầu tiên. Chúng tôi trân trọng sự ủng hộ và hợp tác của các tổ chức đối tác như Đại sứ quán Ireland, Đại sứ quán Canada, Đại sứ quán Hà Lan, Ủy ban Dân tộc, Tổ chức CCFD Terre-Solidaire, Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam, Tổ chức Oxfam tại Việt Nam, Tổ chức Plan International Việt Nam, Trung tâm xây dựng năng lực cộng đồng CECEM v.v. Chúng tôi chân thành cảm ơn các đồng nghiệp và các tư vấn đã đặt nền móng, cùng xây dựng và chia sẻ trong suốt những năm qua. Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đặc biệt nhất tới các thành viên Mạng lưới Tiên Phong vì tiếng nói của người dân tộc thiểu số đã tin tưởng và đồng hành với chúng tôi trên hành trình học hỏi và hiện thực hóa niềm tin của mình. Trong quá trình hoàn thành tài liệu này, chúng tôi được tham vấn và hỗ trợ rất nhiều từ các chuyên gia và các thế hệ lãnh đạo iSEE – ThS. Lê Quang Bình, Th.S Lương Minh Ngọc và Th.S Lương Thế Huy. Chúng tôi cũng nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình của TS. Nguyễn Thu Giang trong vai trò hiệu đính.
Chúng tôi hy vọng độc giả sẽ tìm được những kiến thức và kinh nghiệm bổ ích qua những chia sẻ của mình, và hơn thế nữa, có thêm động lực để tiếp tục tìm tòi và khám phá những cách làm mới để tạo ra sự phát triển có ý nghĩa.
TTCT – Cái bụng anh thương em nhiều như lá rừng, em không có lòng thì thôi, có lòng thì về ta ở với nhau một đêm. Em không có lòng thì thôi, có lòng thì về, ta ở với nhau một ngày”.
Những thửa ruộng bậc thang ở Hoàng Su Phì (Hà Giang). Ảnh: Huy Thọ
Sau những ngày tù cẳng, chán phố thị bêtông bít bùng, người miền xuôi thèm ít không khí thanh sạch và cảnh trí mới mẻ. Nhưng đi đâu? Ngắm mãi những cánh đồng, bờ biển miên man phẳng lặng cũng nhạt. Thế là, người người gọi nhau đi săn những đường nét thật mới mẻ của núi của đồi, với những đèo gấp khúc giăng mây phủ, đột ngột lên cao rồi bất ngờ hẫng xuống, mở ra hết cổng trời này đến cổng trời khác.
Tháng Chín, tháng Mười, người ta lại rủ nhau khám phá những bức tranh miền núi đượm nắng rót vàng như mật ong, những thửa ruộng bậc thang óng ả, uốn lượn mải miết mà dễ chẳng có khung hình nào đóng vừa.
Không có khó khăn nào làm khó hành trình thiện nguyện được xác định là trọn đời của “chàng hiệp sỹ núi rừng” Hoàng Hoa Trung.
Những “bữa cơm kẹp con chữ”
Cuối tháng 11/2022, sáng kiến “Hệ sinh thái nuôi em” của Hoàng Hoa Trung đã được trao giải A Cuộc thi Sáng kiến vì cộng đồng. Lời nhận xét “là một trong những chương trình thiện nguyện hướng tới trẻ em vùng cao, vùng sâu, vùng xa có phương thức hoạt động giàu tính sáng tạo, tính lan tỏa cao, minh bạch và đã triển khai trong thời gian dài, mang lại hiệu quả quan trọng” khiến Trung thêm phấn trấn.
Ở tuổi 32, Hoàng Hoa Trung vẫn tràn đầy nhiệt huyết như khi 17 tuổi – lúc bắt đầu bước vào hoạt động thiện nguyện, khi lần đầu tận mắt nhìn thấy những lớp học cắm bản được dựng tạm bợ bằng tranh, tre, nứa, lá; thấy nhiều em học sinh không thể đến trường; thấy hình ảnh các cô giáo mỗi sáng đi mấy cây số đường rừng gọi từng em đi học…
baophutho.vn – Chen- Chự – Hồ là ba bản người Dao nằm cheo leo cuối dãy núi Tu Tinh, nhìn xuống dòng suối Cái cuộn chảy và những dãy núi sừng sững như cột chống trời. Đây là ba bản cao và xa nhất, cách trung tâm xã Yên Sơn (huyện Thanh Sơn) gần 20km. Từng là địa bàn “sơn cùng, cốc thẳm”, lọt thỏm giữa bạt ngàn rừng, biệt lập với các thôn bản khác bởi giao thông cách trở nhưng nhờ Chương trình mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế- xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là từ khi triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, Chen – Chự – Hồ đã ngày một đổi thay.
Đường từ bản Dao về trung tâm xã được mở rộng và trải nhựa, thuận lợi cho việc đi lại, giao thương, phát triển kinh tế – xã hội của người dân.Tiếp tục đọc “Ngày mới Chen – Chự – Hồ”→
Forest worship practices have existed in the consciousness and life of ethnic minorities for a long time, featured in local ceremonies and festivals based on concepts of the universe and animism and represented by sacred forest gods.
RITUAL: Under shaggy vines, Sui Dơih (centre) – the celebrant – prepares offerings including a roasted pig, grilled meat, wine, chicken liver and a piece of raw pork.
For ethnic minorities in the Tây Nguyên (Central Highlands) and mountainous regions across the country, the forest does not simply refer to materials and resources, but also a broad spiritual culture.
Forest worship practices have existed in the consciousness and life of ethnic minorities for a long time, featured in local ceremonies and festivals based on concepts of the universe and animism and represented by sacred forest gods.
Among them is the religious practice of cúng rừng (forest god worship) of the Jrai community in the Central Highlands province of Gia Lai. The event is a major tradition showing attachment to Mother Nature. Tiếp tục đọc “Traditional forest ritual protects Mother Nature”→
AGO – Bà con nhiều làng Chăm tỉnh An Giang sống dọc theo dòng Hậu Giang hiền hòa, cũng mang tính cách hiền hòa, chất phác như phù sa. Một mùa Tết chịu tuổi (Roya Haji) sắp về, phủ đầy ước vọng bình yên, hạnh phúc, may mắn ở từng mái nhà, từng thánh đường, trong từng nụ cười…
Trong nắng chiều, Thánh đường Masjid Al Ehsan (xã Đa Phước, huyện An Phú) bàng bạc một màu cổ tích, như trong chuyện “Nghìn lẻ một đêm”.
AG – Nâu là tên tôi đặt cô ngựa 10 tuổi của ông Chau Da, ở ấp Vĩnh Lập, xã Vĩnh Trung (TX. Tịnh Biên, tỉnh An Giang). Hôm tôi về xứ núi, Nâu đã có một ngày làm việc rất vất vả, trong cái nắng hầm hập hè biên giới, thi thoảng lại chuyển sang lâm râm những giọt mưa đầu mùa…
Sáng sớm, ông Chau Da đưa Nâu ra khỏi nhà, bắt đầu hành trình mưu sinh quen thuộc. Tiếng vó ngựa lộc cộc lạc lõng giữa dòng xe cộ hiện đại. Tuy nhiên, với người dân xã Vĩnh Trung, hình ảnh này đã quen thuộc vô cùng, bởi vì đây là nơi duy nhất trong tỉnh An Giang có tập tục nuôi ngựa kéo xe, phần lớn do đồng bào dân tộc thiểu số Khmer duy trì mấy chục năm nay.
Sau 7 năm, chúng tôi mới có dịp trở lại Nậm Củm, một trong 5 bản có đồng bào dân tộc Mảng sinh sống tập trung của huyện Mường Tè (Lai Châu), nơi đã từng có việc: “nhà khá nhất bản chỉ có cây đu đủ”. Diện mạo Nậm Củm bây giờ đã mang sắc màu nông thôn mới, nhưng đời sống người dân cơ bản vẫn nghèo, nhiều tệ nạn vẫn còn âm ỉ …
Ở trường tôi có em Cháng T.G 14 tuổi là một học sinh năng động, học tập tốt, ngoan và được các bạn trong trường bầu làm liên đội trưởng.
12 tập phim hoạt hình “Hành trình của Mỷ” được đông đảo các em chờ đón theo dõi.
“Ở trường tôi có em Cháng T.G 14 tuổi là một học sinh năng động, học tập tốt, ngoan và được các bạn trong trường bầu làm liên đội trưởng. Vậy mà chỉ sau dịp nghỉ tết Nguyên Đán, em G đã bỏ học để lấy chồng, một thanh niên cùng xóm. Nhà trường đã báo cáo chính quyền xã can thiệp nhưng em nhất quyết không đi học nữa để ở nhà lấy chồng. Một buổi chiều đầu năm, chúng tôi đến vận động em G đi học. Trước mái nhà em nhỏ bé, sân vườn ướt không có nổi một chỗ khô ráo để bước chân vào… Tôi hỏi ‘sao em không đi học’, em đáp ‘em cũng muốn học nhưng gia đình em bắt em lấy chồng’ vì con gái học nhiều làm gì, vì học thì cũng ăn ngô, không học cũng ăn ngô’”…
“Lấy chồng từ thuở mười ba”, câu chuyện của giáo viên trong một xã của huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang kể lại cho chúng ta thấy, kết hôn trẻ em là một thực tế phổ biến ở nhiều tỉnh miền núi trong cả nước. Thậm chí, tỉ lệ tảo hôn ở một số tộc người như người H’mông, Cơ Lao, Mảng… vẫn lên tới 50%, các em đều rời bỏ ghế nhà trường sau khi kết hôn.
TN – Bản Máy là xã biên giới thuộc H.Hoàng Su Phì, Hà Giang. Đây là xã nằm trong danh sách đặc biệt khó khăn, do ở địa bàn hẻo lánh, đi lại khó khăn, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, kinh tế chủ yếu tự cung tự cấp.
Xã Bản Máy có 4 thôn bản, trong đó cụm Mã Tẻn là khó khăn nhất. Từ trung tâm xã, chỉ có cách đi xe máy (thời tiết nắng ráo) hoặc đi bộ (trời mưa, mùa đông mây mù), với quãng đường gần 7 km mới tới trung tâm của thôn là điểm trường mầm non Mã Tẻn (thuộc Trường mầm non Bản Máy), nằm cách đường biên khoảng 300 m theo đường chim bay. Từ vị trí này có thể nhìn rõ người, xe bên Trung Quốc.
Mã Tẻn nằm trên vùng núi cao, mây mù bao phủ nhiều tháng trong năm – NGUYỄN ĐỘC LẬP
TN – Gần 80 năm sau ngày lập nước, Lai Châu vẫn là tỉnh khó khăn, đi lại xa xôi vất vả và có mật độ dân số thấp nhất toàn quốc. Trong 7 tỉnh biên giới phía bắc, Lai Châu có chiều dài đường biên thứ 3, nhưng sự khó khăn trong quản lý, bảo vệ biên giới thì vẫn… đứng đầu cả nước.
Qua một đêm, tôi tới TP.Lai Châu (tỉnh Lai Châu), thêm nửa ngày nữa mới tới huyện lỵ Mường Tè và lên Đồn biên phòng Pa Vệ Sử (đóng ở xã Pa Vệ Sử, H.Mường Tè, Lai Châu), nghỉ qua đêm để sáng hôm sau lên mốc 42 – nóc nhà biên cương, đi lại khó khăn vất vả nhất toàn quốc.
Mốc “3 ngày 2 đêm”
Đại tá Nguyễn Văn Hưng, Chính ủy Bộ đội biên phòng (BĐBP) Lai Châu, bảo: Ở Lai Châu, có 2 cột mốc cao nhất nhì VN là mốc 79 và 42. Mốc 79 tuy cao nhất (2.880,69 m) nhưng đi lại vẫn dễ hơn so với mốc 42 (2.856,5 m); bộ đội đi tuần tra, thường là đi bộ 3 ngày 2 đêm…