Crypto Crime – Tội phạm crypto, tài sản mã hoá, tiền ảo

Thị Trường Crypto Đen toàn cầu – Global Crypto Black Market – National Geographic

Đế chế tội phạm mạng tỉ đô được xây ở Cambodia như thế nào?- How a Billion Dollar Cambodian Cybercrime Empire Was Built  – Bloomberg 

Vì sao băng nhóm tội phạm Crypto ở Đông Nam Á nở rộ –  Why scam gangs in Southeast Asia are a growing global threat

Griffith.edu.au May 19, 2025 By Dr Hai Thanh Luong

From fake job offers to cryptocurrency fraud and online romance scams, Southeast Asia has become a global hub for transnational scam operations. 

Tiếp tục đọc “Crypto Crime – Tội phạm crypto, tài sản mã hoá, tiền ảo”

Online fraud leaves nobody safe – The vast and sophisticated global enterprise that is Scam Inc

economist.com

EDGAR MET Rita on LinkedIn. He worked for a Canadian software company, she was from Singapore and was with a large consultancy. They were just friends, but they chatted online all the time. One day Rita offered to teach him how to trade crypto. With her help, he made good money. So he raised his stake. However, after Edgar tried to cash out, it became clear that the crypto-trading site was a fake and that he had lost $78,000. Rita, it turned out, was a trafficked Filipina held prisoner in a compound in Myanmar.

In their different ways, Edgar and Rita were both victims of “pig-butchering”, the most lucrative scam in a global industry that steals over $500bn a year from victims all around the world. In “Scam Inc”, our eight-part podcastThe Economist investigates the crime, the criminals and the untold suffering they cause. “Scam Inc” is about the most significant change in transnational organised crime in decades.

Pig-butchering, or sha zhu pan, is Chinese criminal slang. First the scammers build a sty, with fake social-media profiles. Then they pick the pig, by identifying a target; raise the pig, by spending weeks or months building trust; cut the pig, by tempting them to invest; and butcher the pig by squeezing “every last drop of juice” from them, their family and friends.

The industry is growing fast. In Singapore scams have become the most common felony. The UN says that in 2023 the industry employed just under 250,000 people in Cambodia and Myanmar; another estimate puts the number of workers worldwide at 1.5m. In “Scam Inc” we report how a man in Minnesota lost $9.2m and how a bank in rural Kansas collapsed when its chief executive embezzled $47m to invest in crypto, under the tutelage of a fake online woman, called Bella. A part-time pastor, he also stole from his church.

Online scamming compares in size and scope to the illegal drug industry. Except that in many ways it is worse. One reason is that everyone becomes a potential target simply by going about their lives. Among the victims we identify are a neuroscience PhD and even relatives of FBI investigators whose job is to shut scams down. Operating manuals give people like Rita step-by-step instructions on how to manipulate their targets by preying on their emotions. It is a mistake to think romance is the only hook. Scammers target all human frailties: fear, loneliness, greed, grief and boredom.

Luật hôn nhân và gia đình

QUỐC HỘI
——–
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————-
Số: 52/2014/QH13Hà Nội, ngày 19 tháng 06 năm 2014

LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật hôn nhân và gia đình.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên gia đình; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình.

Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình

1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

3. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.

4. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

5. Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.

Tiếp tục đọc “Luật hôn nhân và gia đình”

Sinh con từ noãn/ tinh trùng của người đã mất: Những vấn đề pháp lý nảy sinh 

TiasangHồ Thị Thanh Trúc – Hoàng Xuân Sơn

Y học phát triển giúp nối liền sự sống sau khi chết. Nhưng khi kỹ thuật hiện đại giúp hiện thực hóa những mong mỏi rất nhân văn thì nhiều rắc rối pháp lý đã nảy sinh do chưa có quy định cụ thể về quyền lợi của các bên liên quan, đặc biệt là đứa trẻ sinh ra.

Vấn đề tưởng chừng nhỏ này thực chất lại là tâm điểm của những phát sinh rất rắc rối về pháp lý liên quan đến hàng loạt các văn bản luật khác nhau và cả các khái niệm tài sản, sở hữu, thừa kế… một phần thuộc về cơ thể mỗi người. Ảnh: istock.

Việc sinh con từ noãn hoặc tinh trùng của người đã qua đời diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới kể từ sau ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1980. Nhưng kể từ đây nhiều vấn đề pháp lý đã nảy sinh xung quanh quyền của người đã mất, của thân nhân, và quyền của trẻ sinh ra. Tương tự, ở Việt Nam, câu chuyện cảm động và nhân văn của một người phụ nữ sinh con cho người chồng đã chết ba năm ở Hà Nội vào năm 2013 là trường hợp sinh con cho người chồng đã chết đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam1. Báo chí cũng phản ánh tình trạng này diễn ra nhiều trên thực tế nhưng được giấu kín2.

Tiếp tục đọc “Sinh con từ noãn/ tinh trùng của người đã mất: Những vấn đề pháp lý nảy sinh “

Quốc phòng Việt Nam 2019 (Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019)

16:58 | 10/12/2019

LỜI MỞ ĐẦU

Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn coi trọng giữ ổn định bên trong và hòa hiếu, hữu nghị với các quốc gia, dân tộc khác để xây dựng và phát triển đất nước. Mỗi khi đất nước bị xâm lăng, toàn dân Việt Nam đồng lòng đứng lên đánh bại quân xâm lược, giữ vững núi sông, bờ cõi, độc lập, tự do. Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, nhân dân Việt Nam, trong đó Quân đội nhân dân làm nòng cốt, đã xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc, đẩy mạnh hội nhập quốc tế về quốc phòng, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, bảo vệ nền hòa bình bền vững, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đồng thời, duy trì sức mạnh quốc phòng cần thiết, sẵn sàng đánh bại mọi hình thái chiến tranh xâm lược.

Quân đội nhân dân Việt Nam đã và đang được đổi mới về tổ chức, trang bị, nghệ thuật quân sự; sức mạnh tổng hợp tiếp tục được tăng cường; khả năng sẵn sàng chiến đấu được nâng cao; thực sự là quân đội của nhân dân, lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tiếp tục đọc “Quốc phòng Việt Nam 2019 (Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019)”

Một số nội dung và giá trị cơ bản về quyền con người trong “Quốc Triều Hình Luật” – Luật Hồng Đức

phapluatdansu.edu.vn Tạp chí Triết học số 7 (194) năm 2007

NGUYỄN THANH BÌNH – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Quốc triều hình luật (hay còn gọi là Lê triều hình luật) được xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh trong các triều đại phong kiến Việt Nam thời Lê sơ. Bộ luật này được vua Lê Thánh Tông ban hành vào năm 1483  trong thời gian ông lấy niên hiệu là Hồng Đức (1470-1497), nên trong dân gian và trong sử sách vẫn thường gọi bộ luật này là Luật Hồng Đức(1).

Tất nhiên, cho đến nay, vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau về thời điểm khởi thảo và thời điểm hoàn chỉnh bộ luật này. Trong thiên Hình luật chí (sách Lịch triều hiến chương loại chí), Phan Huy Chú cũng như dựa trên nhiều nguồn tư liệu khác và theo quan điểm chung của nhiều nhà nghiên cứu thì bộ luật này được xây dựng trên cơ sở sưu tập tất cả các điều luật, các văn bản pháp luật đã ban bố và thi hành trong các đời vua trước đây, được sửa chữa, bổ sung và san định lại cho hoàn chỉnh(2). Song, trong Lời nói đầu của cuốn Quốc triều hình luật do Viện Sử học Việt Nam dịch và giới thiệu thì bộ luật trên có thể được soạn thảo ngay năm đầu của triều Lê sơ (Lê Thái Tổ) và “không ngừng được các triều vua kế tiếp bổ sung, hoàn chỉnh dần, trong đó chắc chắn là có những đóng góp to lớn của ông vua nổi tiếng văn hiến Lê Thánh Tông”(3). Có thể khẳng định rằng, Luật Hồng Đức là bộ luật tiến bộ nhất, hoàn chỉnh nhất trong các bộ luật ở Việt Nam thời phong kiến; là thành tựu có giá trị đặc biệt trong lịch sử pháp luật Việt Nam; là một trong những thành tựu tiêu biểu của nền văn hiến nước ta. Bộ luật ấy chứa đựng nhiều giá trị nhân văn sâu sắc và nội dung tư tưởng rộng lớn, là cơ sở nền tảng trong việc xây dựng nhà nước phong kiến thịnh trị thời Lê sơ.

Tiếp tục đọc “Một số nội dung và giá trị cơ bản về quyền con người trong “Quốc Triều Hình Luật” – Luật Hồng Đức”

Thân phận người phụ nữ trong bộ luật Hồng Đức thời hậu Lê

 danviet.vn Thứ ba, ngày 15/06/2021 22:56 PM (GMT+7)

Với Bộ luật Hồng Đức, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, người phụ nữ được pháp luật quy định một loại quyền đặc biệt…

Bộ luật Hồng Đức là 1 trong 4 bộ tổng luật thành văn trong lịch sử lập pháp Việt Nam (cùng với bộ Hình thư thời Lý, bộ Quốc triều thông chế thời Trần và bộ Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn). Bộ luật Hồng Đức là sản phẩm của việc pháp điển hóa pháp luật thời Lê sơ, hiệu lực của nó không chỉ duy trì trong hơn 300 năm thời Hậu Lê; mà kể cả thời Nguyễn sau này hay hệ thống pháp luật Việt Nam hiện đại cũng đã kế thừa nhiều thành tựu lập pháp trong bộ luật Hồng Đức.

Thân phận người phụ nữ trong bộ luật Hồng Đức thời hậu Lê - Ảnh 1.
Hai người phụ nữ thời Lê trong Hoàng Thanh chức cống đồ.

Bộ luật Hồng Đức bao gồm 722 điều, chia thành 13 chương; nhưng không phải tất cả các điều luật này đều được ban hành trong thời kì Hồng Đức (1470-1497). Ví dụ, điều 388 bộ luật Hồng Đức được ban hành vào năm Quang Thuận thứ 2 (1461); điều 389 bộ luật Hồng Đức được ban hành vào năm Hồng Thuận thứ 3 (1511), điều 391 bộ luật Hồng Đức được ban hành vào năm Quang Thiệu thứ 2 (1517)…

Tiếp tục đọc “Thân phận người phụ nữ trong bộ luật Hồng Đức thời hậu Lê”

Tuyên bố chung tại nước sở tại về việc sắp thi hành án tử hình với Lê Văn Mạnh ở Việt Nam

*Lê Văn Mạnh đã bị tử hình vào ngày 22.9.2023, sau 19 năm kêu oan*

 Ngày 20.09.2023   Hà Nội Press and information team of the Delegation to VIETNAM

Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam và tất cả các cơ quan đại diện ngoại giao của các Quốc gia Thành viên Liên minh châu Âu tại Việt Nam ra tuyên bố sau đây cùng với các cơ quan đại diện ngoại giao của Canada, Vương quốc Na Uy và Vương quốc Anh: 

Liên minh châu Âu và các cơ quan đại diện ngoại giao của Canada, Vương quốc Na Uy và Vương quốc Anh kêu gọi các cơ quan thẩm quyền Việt Nam dừng việc thi hành án tử hình ông Lê Văn Mạnh (quyết định số 02/2015/QD-CA). 

Chúng tôi cực lực phản đối việc áp dụng hình phạt tử hình trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh, đây là một hình phạt tàn ác, vô nhân đạo, hạ thấp nhân phẩm và không bao giờ có thể biện minh được, đồng thời vận động Việt Nam hoãn thi hành tất cả các án tử hình.

Ngày nay, hơn hai phần ba các quốc gia trên thế giới đã trở thành những quốc gia bãi bỏ trong luật pháp hoặc trên thực tiễn, điều này khẳng định xu hướng toàn cầu ủng hộ việc bãi bỏ án tử hình. Không có bằng chứng nào cho thấy hình phạt tử hình có tác dụng răn đe tội phạm hiệu quả hơn hình phạt tù. Hơn nữa, việc cải tạo với vai trò như một mục tiêu của luật hình sự hiện đại không thể thực hiện được bằng việc áp dụng hình phạt tử hình. Không những thế, bất kỳ sai sót nào – điều không thể tránh khỏi trong bất kỳ hệ thống luật pháp nào – đều không thể đảo ngược. 

Chúng tôi sẽ tiếp tục tích cực nỗ lực để thúc đẩy xu hướng chung hướng tới loại bỏ hình phạt tử hình và sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam trên con đường tiến tới việc xóa bỏ này.

QUỐC HỘI THÔNG QUA LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG (SỬA ĐỔI)

quochoi.vn 20/06/2023

Chiều 20/6, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải, Quốc hội tiến hành biểu quyết thông qua Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi). Kết quả cho thấy, có 463/465 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành với việc thông qua Luật này (đạt tỷ lệ 93,72%).

PHÁT BIỂU ẤN TƯỢNG TẠI PHIÊN THẢO LUẬN VỀ DỰ ÁN LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG (SỬA ĐỔI)

ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI CHO Ý KIẾN VỚI 03 NỘI DUNG VỀ HOÀN THIỆN CÁC DỰ ÁN LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG (SỬA ĐỔI)

Sau khi Quốc hội nghe Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Lê Quang Huy trình bày về Một số vấn đề lớn giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi), Quốc hội đã biểu quyết thông qua dự án Luật này. 

Phát biểu tại Hội trường, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải cho biết, kết quả cho thấy, có 463/465 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành với việc thông qua Luật này (đạt tỷ lệ 93,72%).

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải phát biểu tại Hội trường.

Tiếp tục đọc “QUỐC HỘI THÔNG QUA LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG (SỬA ĐỔI)”

Chính sách thuế, kế toán đối với các quỹ xã hội, quỹ từ thiện ở Việt Nam


07:26 05/02/2022 tạpchitaichanh

Hiện nay, việc hình thành và mở rộng các quỹ xã hội, từ thiện là xu thế tất yếu để giúp Chính phủ cung cấp hàng hóa công cộng và phúc lợi cho các đối tượng yếu thế, góp phần giảm chênh lệch khoảng cách giàu, nghèo. Thông qua phân tích, đánh giá một số chính sách thuế, kế toán hiện đang áp dụng đối với các quỹ xã hội, từ thiện ở Việt Nam, bài viết chỉ ra những hạn chế, khoảng trống trong các quy định này và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế, kế toán đối với các quỹ xã hội, từ thiện, giúp cho việc thực hiện nghĩa vụ của các quỹ này thuận tiện, minh bạch.

Ảnh minh họa. Nguồn: internet
Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Cơ sở pháp lý về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, từ thiện ở Việt Nam

Hiện nay, các tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, từ thiện ở Việt Nam hoạt động dựa trên căn cứ pháp lý sau: Nghị định số 93/2019/NĐ-CP ngày 25/11/2019 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, từ thiện và Nghị định số 93/2021/NĐ-CP ngày 27/10/2011 của Chính phủ về vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ nhân dân khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng, các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo (thay thế Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14/5/2008 của Chính phủ).

Tiếp tục đọc “Chính sách thuế, kế toán đối với các quỹ xã hội, quỹ từ thiện ở Việt Nam”

Nghị định chính phủ Số 93/2019/NĐ-CP về Tổ chức, Hoạt động của Quỹ xã hội, Qũy từ thiện

CHÍNH PHỦ
——-
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————
Số: 93/2019/NĐ-CPHà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2019

NGHỊ ĐỊNH

VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ XÃ HỘI, QUỸ TỪ THIỆN

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Bộ luật dân sự ngày 24 tháng 11 năm 2015;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ;

Chính phủ ban hành Nghị định về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước về quỹ xã hội, quỹ từ thiện (sau đây gọi chung là quỹ) được thành lập và hoạt động tại Việt Nam.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với công dân, tổ chức Việt Nam và cá nhân, tổ chức nước ngoài có liên quan.

Điều 3. Mục đích tổ chức, hoạt động của quỹ

Tiếp tục đọc “Nghị định chính phủ Số 93/2019/NĐ-CP về Tổ chức, Hoạt động của Quỹ xã hội, Qũy từ thiện”

Phương án phát triển lưới điện quốc gia thời kỳ 2021 – 2030

Tham vấn bởi Luật sư Phạm Thanh Hữu Chuyên viên pháp lý 

Quỳnh Như Báo điện tử chính phủ

Phương án phát triển lưới điện quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được định hướng như thế nào? – Thùy Trâm (TPHCM)

Mục lục bài viếtMục lục bài viết

Phương án phát triển lưới điện quốc gia thời kỳ 2021 – 2030

Phương án phát triển lưới điện quốc gia thời kỳ 2021 – 2030 (Hình từ internet)

Ngày 15/5/2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 500/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII).

1. Phương án phát triển lưới điện quốc gia thời kỳ 2021 – 2030

Về định hướng phát triển

– Phát triển hệ thống truyền tải điện đồng bộ với tiến độ các nguồn điện, nhu cầu phát triển phụ tải của các địa phương, sử dụng công nghệ hiện đại, đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế, sẵn sàng kết nối khu vực. Phát triển lưới điện thông minh để tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo ở quy mô lớn, đáp ứng yêu cầu vận hành hệ thống điện an toàn, ổn định và kinh tế.

– Phát triển lưới điện truyền tải 500 kV và 220 kV bảo đảm khả năng giải tỏa công suất các nhà máy điện, nâng cao độ tin cậy cung cấp điện, giảm tổn thất điện năng, đáp ứng tiêu chí N-1 đối với vùng phụ tải quan trọng và N-2 đối với vùng phụ tải đặc biệt quan trọng.

Phát triển lưới điện truyền tải điện có dự phòng lâu dài, tăng cường sử dụng cột nhiều mạch, nhiều cấp điện áp đi chung để giảm diện tích chiếm đất. Khuyến khích xây dựng các trạm biến áp truyền tải kết hợp cung cấp điện cho phụ tải lân cận.

– Lưới điện truyền tải 500 kV giữ vai trò xương sống trong liên kết các hệ thống điện vùng miền và trao đổi điện năng với các nước trong khu vực. Giới hạn truyền tải liên miền ở mức hợp lý, giảm truyền tải điện đi xa, hạn chế tối đa xây dựng mới các đường dây truyền tải liên miền trước năm 2030.

– Xây dựng lưới điện 220 kV bảo đảm độ tin cậy, các trạm biến áp trong khu vực có mật độ phụ tải cao thiết kế theo sơ đồ đảm bảo vận hành linh hoạt. Xây dựng các trạm biến áp 220 kV đủ điều kiện vận hành tự động không người trực. Đẩy mạnh xây dựng các trạm biến áp GIS, trạm biến áp 220/22 kV, trạm ngầm tại các trung tâm phụ tải.

– Nghiên cứu ứng dụng hệ thống Back-to-Back, thiết bị truyền tải điện linh hoạt để nâng cao khả năng truyền tải, giảm thiểu diện tích chiếm đất. Tổ chức nghiên cứu công nghệ truyền tải điện xoay chiều và một chiều điện áp trên 500 kV.

– Định hướng sau năm 2030 sẽ phát triển các đường dây truyền tải siêu cao áp một chiều kết nối khu vực Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Bắc Bộ để khai thác mạnh tiềm năng điện gió ngoài khơi. Nghiên cứu các kết nối xuyên châu Á – Thái Bình Dương.

Các dự án lưới điện truyền tải trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh chưa đưa vào vận hành được điều chỉnh trong Quy hoạch này.

Về khối lượng xây dựng lưới truyền tải

– Giai đoạn 2021 – 2030: Xây dựng mới 49.350 MVA và cải tạo 38.168 MVA trạm biến áp 500 kV; xây dựng mới 12.300 km và cải tạo 1.324 km đường dây 500 kV; xây dựng mới 78.525 MVA và cải tạo 34.997 MVA trạm biến áp 220 kV; xây dựng mới 16.285 km và cải tạo 6.484 km đường dây 220 kV.

– Định hướng giai đoạn 2031 – 2050: Xây dựng mới 40.000 – 60.000 MW dung lượng trạm HVDC và 5.200 – 8.300 km đường dây HVDC; xây dựng mới 90.900 – 105.400 MVA và cải tạo 117.900 -120.150 MVA trạm biến áp 500 kV; xây dựng mới 9.400 – 11.152 km và cải tạo 801 km đường dây 500 kV; xây dựng mới 124.875 – 134.125 MVA và cải tạo 105.375 – 106.750 MVA trạm biến áp 220 kV; xây dựng mới 11.395 – 11.703 km, cải tạo 504 – 654 km đường dây 220 kV. Khối lượng lưới điện giai đoạn 2031 – 2050 sẽ chuẩn xác trong các quy hoạch điện thời kỳ tiếp theo.

2. Liên kết lưới điện với các nước trong khu vực

– Tiếp tục nghiên cứu hợp tác, liên kết lưới điện với các nước tiểu vùng sông Mê Kông và các nước ASEAN ở các cấp điện áp 500 kV và 220 kV để tăng cường khả năng liên kết hệ thống, trao đổi điện năng, tận dụng thế mạnh tài nguyên của các quốc gia.

– Thực hiện liên kết lưới điện với Lào bằng các tuyến đường dây 500 kV, 220 kV để nhập khẩu điện từ các nhà máy điện tại Lào theo biên bản ghi nhớ hợp tác đã ký kết giữa hai Chính phủ.

– Duy trì liên kết lưới điện với các nước láng giềng qua các cấp điện áp 220 kV, 110 kV, trung thế hiện có; nghiên cứu thực hiện giải pháp hòa không đồng bộ giữa các hệ thống điện bằng trạm chuyển đổi một chiều – xoay chiều ở cấp điện áp 220-500 kV.

– Xây dựng các công trình đấu nối các dự án xuất khẩu điện có hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở đảm bảo an ninh năng lượng và an ninh quốc phòng.

Xem thêm Quyết định 500/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 15/5/2023.

Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia VIII

QUYẾT ĐỊNH 500/QĐ-TTG NGÀY 15/05/2023 PHÊ DUYỆT QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐIỆN LỰC QUỐC GIA THỜI KỲ 2021-2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050 DO THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ BAN HÀNH download >>

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 500/QĐ-TTg

Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

PHÊ DUYỆT QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐIỆN LỰC QUỐC GIA THỜI KỲ 2021 – 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11 năm 2019;

Căn cứ Luật Quy hoạch ngày 24 tháng 11 năm 2017;

Căn cứ Luật Điện lực ngày 03 tháng 12 năm 2004; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực ngày 20 tháng 11 năm 2012;

Căn cứ Nghị quyết 61/2022/QH15 ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Quốc hội về tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch và một số giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ lập và nâng cao chất lượng quy hoạch thời kỳ 2021 – 2030;

Căn cứ Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050;

Căn cứ Nghị định số 37/2019/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quy hoạch;

Căn cứ Nghị định số 137/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện lực và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực;

Theo đề nghị của Bộ Công Thương tại Tờ trình số 2842/TTr-BCT ngày 14 tháng 5 năm 2023 và Công văn số 2851/BCT-ĐL ngày 15 tháng 5 năm 2023; Báo cáo thẩm định số 62/BC-HĐTĐQHĐ ngày 13 tháng 5 năm 2023 của Hội đồng thẩm định Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (gọi tắt là Quy hoạch điện VIII) với những nội dung chủ yếu sau: Tiếp tục đọc “Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia VIII”