36 cán bộ y tế bị khởi tố trong đường dây ‘chạy’ kết luận giám định tâm thần
36 lãnh đạo, cán bộ Viện pháp y tâm thần Trung ương và 4 người bị khởi tố với cáo buộc liên quan đường dây “chạy” kết luận giám định tâm thần.
Ngày 23/6, Công an Hà Nội cho biết Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố 40 người, trong đó có 4 bị can về tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.
Trong 31 người còn lại bị điều tra nhận hối lộ có một viện trưởng, một phó viện trưởng, hai trưởng khoa điều trị bắt buộc, hai điều dưỡng trưởng khoa điều trị bắt buộc; một trưởng khoa giám định…
Cùng vụ án, công an đang điều tra những người có liên quan khác về các tội: Đưa hối lộ, Nhận hối lộ, Môi giới hối lộ, Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Nguyễn Mai Anh và chồng Lại Văn Đông. Ảnh: Ngọc Bích
Công nghệ chỉnh sửa gene (CRISPR) ngày một dễ thực hiện. Điều đó có ý nghĩa gì với tương lai của loài người?
Ảnh: Shutterstock.
Năm 2016, tôi đã tham dự một cuộc họp lớn của các nhà báo tại Washington, DC. Diễn giả chính là Jennifer Doudna, người đồng sáng chế CRISPR vài năm trước đó – một phương pháp mang tính cách mạng trong việc thay đổi gene đang càn quét khắp các phòng thí nghiệm sinh học vì nó quá dễ dùng. Doudna giải thích, với khám phá này, con người đã đạt được khả năng chỉnh sửa bản chất phân tử cơ bản tạo nên chính mình. Và năng lực đó đi kèm với cả triển vọng và nguy hiểm. Một trong những nỗi sợ lớn nhất của bà, bà nói, là “thức dậy vào một buổi sáng và đọc về đứa trẻ đầu tiên được tạo ra bằng CRISPR” – một đứa trẻ được chỉnh sửa gene có chủ ý ngay từ đầu.
TTCT – Không ngờ câu chuyện của VĐV thể dục dụng cụ Phạm Như Phương tố HLV của mình về những khoản tiền bị trừ sai quy định ngày càng thêm rối rắm.
Ảnh: The Zeiger Firm
Trong các loại rối rắm kiểu tiền bị cắt để chuyển cho một ông T. nào đấy đang công tác tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia; hay 10% tiền thưởng bị cắt để quà cáp cho ai đấy…, thì lãnh đạo Cục Thể dục thể thao bảo đang làm rõ; tôi xin bàn đến một khía cạnh khác là liệu có dẹp được cái nạn cắt xén trái quy định hay không.
Kỳ 1 – Dịch vụ thụ tinh ống nghiệm: Ngành ‘công nghiệp’ siêu lợi nhuận?
Người bệnh khám vô sinh tại bệnh viện. Ảnh: Phương Thúy.
So với 10 năm trước, hiện nay, cả nước có 53 trung tâm hỗ trợ sinh sản thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Với chi phí dao động từ hàng chục tới hàng trăm triệu một lần thực hiện, dịch vụ này đang trở thành ngành “công nghiệp” siêu lợi nhuận.
Lời tòa soạn
Năm 1997, lần đầu tiên tại Việt Nam, kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) được thực hiện. Một năm sau, các em bé chào đời. Mặc dù bắt đầu muộn so với thế giới (1978) và khu vực (1984), nhưng hiện nay, Việt Nam là nước thực hiện IVF nhiều nhất khu vực ASEAN và là nước đi đầu về kỹ thuật này của khu vực. Nước ta có khoảng 50.000 trường hợp IVF mỗi năm, cho đến nay ước tính đã có khoảng 200.000 trẻ ra đời ở Việt Nam từ kỹ thuật này.
Đây được xem là thị trường y tế siêu lợi nhuận mang lại hàng triệu USD mỗi năm. Tuy nhiên, nhiều bác sĩ lo ngại kỹ thuật hỗ trợ sinh sản sẽ bị thương mại hóa.
VietNamNet xin đăng tuyến bài: ‘Nở rộ’ trung tâm hỗ trợ sinh sản, người hiếm muộn thành khách hàng tiềm năng để phản ánh về thực tế bức tranh điều trị vô sinh hiếm muộn tại nước ta.
BẾN TRE – Tòa phúc thẩm xác định có đủ căn cứ cho thấy Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu sai sót khi mổ, khiến bé trai bại não (thiệt hại 95% sức khỏe) nên phải bồi thường.
TAND tỉnh Bến Tre xử phúc thẩm vụ án tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, giữa nguyên đơn là vợ chồng anh Mai Văn Thắng, 49 tuổi, và bị đơn là Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu (TP Bến Tre), chiều 4/1.
Vợ chồng anh Thắng cùng con trai Mai Trọng Nghĩa, 13 tuổi, đi nhờ xe người quen đến dự phiên tòa để đỡ tốn kém. Trước giờ xét xử, vợ anh nhiều lần phải thay bỉm cho con vì cậu bé bại não nhiều năm nay không thể tự chủ việc vệ sinh. Thỉnh thoảng Nghĩa lại cười lớn, quơ chân tay loạn xạ khiến cha mẹ phải dỗ dành, trấn an.
Bé Mai Trọng Nghĩa cùng cha mẹ tại tòa phúc thẩm. Ảnh: Nam An
China is bad. At least, that’s what even a glance of U.S. reporting on China tells us. It’s a way of reporting that follows a long history of constructing the Chinese — in news, popular culture and the halls of DC — as a threat. In the first episode of Backspace, a new media critique series from AJ+, Sana Saeed explores what China and the Chinese have looked like in the American imagination, how that impacts and is impacted by U.S. immigration and foreign policies, and ways we can retell that story.
It’s been over two weeks since the October 7 Hamas attacks and Israel’s subsequent bombardment and siege of Gaza, which has taken thousands of Palestinian lives. The United States has stood firmly behind Israel, giving it a carte blanche to do whatever it wishes – without critique and consequence. And U.S. news media has followed suit. In this special episode of Backspace, Sana Saeed looks at how the U.S. news media protects Israel from criticism and condemnation.
Israeli occupation of Palestine tends to be a touchy subject for news media, so much so that they break journalistic standards and writing etiquette just to avoid implicating one party over another — which still seems to end up working out in Israel’s favor and never Palestine’s. That’s led to a media environment that can’t clearly call out the ethnic cleansing and apartheid inflicted upon Palestinians, doesn’t point to context when talking about the results of decades-long oppression and displacement, and can’t help but equivocate about two disproportionately affected populations. But maybe that’s starting to change.
Sana Saeed looks at what U.S. media coverage has gotten wrong about recent events in Gaza, Sheikh Jarrah and occupied Palestine, and offers her own media critique.
TTCT – Chục ngày qua, tòa xử đại án “chuyến bay giải cứu” hai năm trước. Nhưng tôi không muốn nhắc lại phiên tòa buồn bã ngày hôm nay, mà muốn nhắc về một quá khứ vẫn còn nóng hổi, của lòng trắc ẩn trong đại dịch…
Người di cư về tới đèo Lò Xo đầu tháng 10-2021. Ảnh: Calvin Tran
Một trong những sợi dây quan trọng giúp hình thành, cố kết, duy trì cộng đồng xuyên suốt trong chiều dài lịch sử và chiều ngang không gian của mọi cộng đồng là đạo đức, là nhân tính. Và một biểu hiện cụ thể của nó là không quay lưng bỏ rơi đồng loại trong những khúc nguy nan.
Impact investing is a major topic on investors’ radar screens, boasting huge growth, and widespread acceptance among those seeking to align their portfolios with their values. But impact investing has always been more than a fad.
KEY TAKEAWAYS
Socially responsible investing’s origins in the United States began in the 18th century with Methodism, a denomination of Protestant Christianity that eschewed the slave trade, smuggling, and conspicuous consumption, and resisted investments in companies manufacturing liquor or tobacco products or promoting gambling.
Socially responsible investing ramped up in the 1960s, when Vietnam War protestors demanded that university endowment funds no longer invest in defense contractors.
The combined efforts of protests and responsible investing during the Vietnam War and Apartheid in South Africa, led to institutional and legislative change.
Over time, research has backed up this strategy: companies that care about the environment, promote equality among employees, and enforce proper financial guidelines tend to accrue added benefits to investors.
History of Impact Investing
Investopedia / Sabrina Jiang
Impact investing is also referred to as socially responsible investing (SRI). The practice has a rich history. In Biblical times, ethical investing was mandated by Jewish law. Tzedek (which means justice and equality), comprises rules to correct the imbalances that humans cause. Tzedek is referred to in the first five books of the Bible—collectively called the Pentateuch—thought to have been written by Moses from 1,500 to 1,300 B.C.E.12 According to Jewish tradition, these rules apply to all aspects of life, including the government and the economy. Ownership carries rights and responsibilities, one of which is to prevent immediate and potential harm.3
A growing number of investors want to encourage companies to act responsibly in addition to delivering financial returns.
The terms environmental, social, and governance (ESG), socially responsible investing (SRI), and impact investing are often used interchangeably, but have important differences.
ESG looks at the company’s environmental, social, and governance practices alongside more traditional financial measures.
Socially responsible investing involves choosing or disqualifying investments based on specific ethical criteria.
Impact investing aims to help a business or organization produce a social benefit.
Investing is no longer just about the returns. A growing number of investors also want their money to fund companies as committed to a better world as they are to their bottom line.
Socially responsible investing and one of its subsets, impact investing, have attracted more than one-third of the assets under professional management in the U.S., according to a 2020 survey by the U.S. Forum for Sustainable and Responsible Investment. That amounted to more $17 trillion in assets under management based on socially responsible criteria, an increase of 42% from 2018.1
The growing demand has fueled a proliferation of funds and strategies that integrate ethical considerations into the investment process. Environmental, social, and governance (ESG), socially responsible investing (SRI), and impact investing are industry terms often used interchangeably by clients and professionals alike, under the assumption that they all describe the same approach. However, these terms have subtle differences of meaning.
Phía Trung Quốc vừa phê duyệt mã số vùng trồng, vườn sầu riêng mới chỉ có trái còn non, thậm chí chưa ra trái, thế nhưng trên cửa khẩu đã có những xe hàng được gắn mã số vùng trồng này chờ làm thủ tục thông quan xuất khẩu.
Một số vùng xoài ở Đồng Tháp từng bị Trung Quốc “cấm cửa” vì mạo danh mã số vùng trồng (ảnh: Dân trí)
Nếu không làm đúng chuẩn, thích gian lận, doanh nghiệp xuất khẩu Việt sẽ tự chặn con đường đưa nông sản sang Trung Quốc.
Sau ca mổ thành công tách cặp song sinh dính nhau ở Bệnh viện Nhi đồng TPHCM ngày 15/7, một số người hỏi tôi rằng, liệu đã đến lúc cần thiết phải đẩy mạnh sàng lọc dị tật thai nhi trước sinh, để ngăn chặn sự ra đời của những “đứa trẻ khuyết tật”?
Phá thai nhi dị tật là một vấn đề phân cực trong nhiều xã hội. Ảnh: The New York Times
Phá thai nhi dị tật là một vấn đề phân cực. Những người ủng hộ cho rằng, “đứa trẻ khiếm khuyết” không chỉ rắc rối vì dị tật bẩm sinh trong suốt cuộc đời, mà còn để lại gánh nặng kinh tế cũng như tinh thần vô cùng nặng nề cho cả gia đình và xã hội. Ngược lại, những người chống phá thai cho rằng, việc từ chối sinh con tàn tật là một hành vi vô nhân đạo, bởi trong trường hợp đó, người phụ nữ mang thai đã phân loại đứa con của mình theo thang đo của sự hoàn hảo và quyết định đứa trẻ nào không có quyền được sống.
Bản thân tôi khi siêu âm dị tật thai nhi, đặc biệt với những dị tật nghiêm trọng, sẽ luôn nhận được câu hỏi theo lẽ tự nhiên, rằng có nên giữ thai để sinh ra một “đứa trẻ khiếm khuyết” hay phá bỏ? Với tôi đó là những tình huống khó xử về đạo đức!
PNO – Các nhà nghiên cứu ở Anh cho biết hầu hết các tuyên bố về những lợi ích về sức khỏe đối với các sản phẩm sữa công thức đều có rất ít bằng chứng chứng minh. Đồng thời kêu gọi các chính phủ nên áp dụng các quy tắc tiếp thị chặt chẽ hơn trên toàn thế giới.
Theo một bài báo trên tạp chí y khoa BMJ hôm 16/2, phần lớn các thông tin về sức khỏe được sử dụng để quảng cáo sữa bột trẻ em trên toàn thế giới không được hỗ trợ bởi bằng chứng khoa học và yêu cầu các sản phẩm thay thế sữa mẹ nên được bán trong bao bì đơn giản.
Nghiên cứu được đưa ra một tuần sau khi một nhóm các bác sĩ và nhà khoa học kêu gọi siết chặt quy định đối với ngành công nghiệp sữa công thức trị giá 55 tỉ USD đối với hoạt động tiếp thị “săn mồi” mà họ cho rằng khai thác nỗi sợ hãi của những người mới làm cha mẹ.
Các công ty sữa công thức đang tiếp thị sản phẩm của họ vượt quá mức những dữ liệu khoa học có được
Nuôi con bằng sữa mẹ đã được công nhận mang lại nhiều lợi ích sức khỏe rất lớn cho trẻ sơ sinh. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời của trẻ. “Tuy nhiên, khuyến nghị đó được áp dụng cho chưa đến một nửa số trẻ sơ sinh trên toàn cầu”, theo báo cáo của WHO.
Tiến sĩ Daniel Munblit, giảng viên cao cấp tại Đại học Hoàng gia London, Anh và là tác giả của nghiên cứu mới, cho biết các nhà nghiên cứu không chống lại sữa công thức dành cho trẻ sơ sinh vì đây vẫn là một lựa chọn cho những bà mẹ không thể hoặc chọn không cho con bú. “Nhưng chúng tôi cực lực phản đối việc tiếp thị sữa công thức cho trẻ sơ sinh không phù hợp, vốn đưa ra những tuyên bố gây hiểu lầm mà thiếu bằng chứng khoa học”, tiến sĩ Munblit nói.
Tiến sĩ Munblit và một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế đã xem xét các tuyên bố về sức khỏe đối với 814 sản phẩm trên trang web của các công ty sữa bột trẻ em ở 15 quốc gia, bao gồm Úc, Canada, Đức, Ấn Độ, Ý, Nhật Bản, Nigeria, Na Uy, Pakistan, Nga, Ả Rập Saudi, Nam Phi, Tây Ban Nha, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ.
“Tuyên bố phổ biến nhất của các công ty là sữa công thức hỗ trợ phát triển trí não, tăng cường hệ thống miễn dịch và giúp tăng trưởng chiều cao… Tuy nhiên, theo nghiên cứu được công bố trên tạp chí BMJ, một nửa số sản phẩm không có bằng chứng chứng minh lợi ích sức khỏe như đã tuyên bố. 3/4 không đề cập đến bằng chứng khoa học.
Trong số những công tuy cung cấp tài liệu tham khảo khoa học thì hơn một nửa chỉ ra các bài đánh giá, ý kiến hoặc nghiên cứu trên động vật.
Chỉ có 14% các sản phẩm đề cập đến các thử nghiệm lâm sàng đã đăng ký trên người. Tuy nhiên, 90% các thử nghiệm đó có nguy cơ sai lệch cao, bao gồm thiếu dữ liệu hoặc phát hiện không hỗ trợ cho tuyên bố. Và gần 90% các thử nghiệm lâm sàng là từ các tác giả nhận được tài trợ từ (hoặc có quan hệ với) ngành công nghiệp sữa công thức”, trích từ nghiên cứu cho biết.
Tiến sĩ Munblit cho biết, các thông tin được sử dụng để quảng cáo các sản phẩm sữa công thức đều xoáy vào cao cấp, điều này có thể gây nhầm lẫn cho các bậc cha mẹ vì tưởng rằng các thành phần này là thiết yếu. Thậm chí, những lời quảng cáo này còn gây đau khổ cho những bà mẹ nghèo vì họ cảm thấy có lỗi vì không đủ tiền mua sữa tốt nhất cho con. Theo ông, các chính phủ nên áp dụng quy tắc tiếp thị chặt chẽ hơn nhằm tránh quảng cáo quá lố và sữa nên được đóng trên bao bì đơn giản nhằm giảm áp lực giá cả lên các bà mẹ.
Parents and pregnant women globally are exposed to aggressive marketing for baby formula milk, according to a report launched jointly by two UN agencies on Tuesday.
How marketing of formula milk influences our decisions on infant feeding, the first report in a series by the World Health Organization (WHO) and the UN Children’s Fund (UNICEF), draws on interviews with parents, pregnant women, and health workers in eight countries.
More than half of those surveyed acknowledged that they had been targeted by formula milk companies.
Invasive marketing
UNICEF and WHO maintain that the $55 billion formula milk industry uses systematic and unethical marketing strategies to influence parents’ infant feeding decisions and exploitative practices that compromise child nutrition and violate international commitments.
“This report shows very clearly that formula milk marketing remains unacceptably pervasive, misleading and aggressive,” said WHO Director-General Tedros Adhanom Ghebreyesus, calling for regulations on exploitative marketing to be “urgently adopted and enforced to protect children’s health.”
The report found not only that industry marketing techniques include unregulated and invasive online targeting, but also sponsored advice networks and helplines; offered promotions and free gifts; and influenced health workers’ training and recommendations.
Barriers to breastfeeding
The report underlines that the industry often delivers misleading and scientifically unsubstantiated information to parents and health workers and also violates the International Code of Marketing of Breast-milk Substitutes – a landmark public health agreement to protect mothers from aggressive marketing by the baby food industry.
Having surveyed 8,500 parents and pregnant women, and 300 health workers globally, the report found that exposure to formula milk marketing reached 84 per cent of all women surveyed in the United Kingdom; 92 per cent in Viet Nam and 97 per cent in China – increasing their likelihood of choosing formula feeding.
“False and misleading messages about formula feeding are a substantial barrier to breastfeeding, which we know is best for babies and mothers,” said UNICEF Executive Director Catherine Russell.